Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2009

Anh Bình nói

Hoang mang bơi giữa phàm trần
Trăm bờ ảo vọng, nghìn tầng quạnh hiu!
Oh! Giai điệu và gam màu rất hợp. Sao mà mũi tên như kẻ chỉ nằm gọn ngay giữa hồng tâm của TP thế…?? Còn 50% nửa của 2 câu trên, chờ hoài…Tức anh ách… Anh B ơi! Hình như; dang dỡ, lỡ làng, một chút gì đó vắng và thiếu thì mới đọng phải khônng Anh ?

Mãi quen với kiếp phiêu bồng
Gót chân lỡ bám bụi hồng lãng du
Chợt nghe lá thức chiều thu
Dạo đầu những khúc tình ru muộn màng

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2009

Truyện ngắn của Y.Kawabata

Trái tim

Nàng nhận được lá thư của người chồng không còn yêu nàng nữa và đã bỏ đi. Thư đến từ một noi xa! Phải hai năm nó mới đến tay người nhận
Anh ta viết:” Em đừng cho con chơi bóng. Những trái bóng của con dội mãi tới đây vò xé tim anh”
Nàng tước của đứa con gái- nó mới lên chín- quả bóng cao su.
Người chồng lại gửi thư tới. Lần nầy từ một vùng còn xa hơn nửa.
Anh ta viết:”Đừng cho con gái đi giầy da tới trường. Tiếng giầy của nó vẳng mãi tới trường và anh cảm thấy nó nện vào chính tim anh”
Thay cho giầy da, nàng cho con đi đôi xăng-đan bằng một thứ vải mềm. Đứa nhỏ khóc và kết cục nó không chịu đi học nửa.
Mấy tháng sau lá thư thứ hai, người chồng lại gởi tới một bức thư nửa. Nét chữ xiêu vẹo, vẻ thiếu tự tin, thứ chữ người già
Anh ta viết:”Đừng cho con gái ăn bằng bát sứ. Tiếng bát đũa khua mãi tới đây nhức nhối tim anh”
Nàng cho con ăn bằng bát đàn đũa tre, như một đứa trẻ ba tuổi. Và nàng nhớ lại thời nó mới lên hai, chồng nàng lúc nào cũng vui vẻ, sống bên hai mẹ con.
Không hỏi gì nàng, một lần con bé lôi bằng được cái bát sứ của mình ra khỏi tủ chén. Người mẹ vội giằng lại và vứt cái bát ra vườn. Chiếc bát rơi đúng vào con đường nhỏ lát đá và vỡ tan ra. Nàng nghĩa rằng việc đó sẽ vò xé trái tim chồng. Cau mày suy nghĩ, rồi nàng vứt nốt cả chiếc bát của mình ra cửa. Tiếng bát vỡ lại vang lên đánh choang. Liệu nó có vò xé trái tim anh ấy ? Nàng vứt tung cả cái bàn ăn ra vườn. Ôi, cái âm thanh nầy! Như phát điên, nàng lao đến bên tấm vách ngăn bằng giấy, đấm vào đấy, vứt tung nó trên sàn.
-Me…ẹ!- Đứa con gái khóc, chạy tới bên bàn-Me…ẹ….Me….Me…..ẹ !
Nàng vùng dậy đánh vào má con
- Anh có nghe, anh có nghe tiếng con gào thế nầy không?!
Người chồng lại gửi thư đến. Thư viết từ một vùng mới còn xa hơn nữa.
Người chồng viết:” Em đừng làm gì phát ra tiếng động nữa… Em đừng khép cửa, đừng mở cửa…. đừng lên giây đồng hồ, để không ai nghe tiếng tích tắc của nó. Em đừng thở mạnh….”
“- Em đừng…. Em đừng…. Em đừng….”- Nàng nói thầm một mình, nước mắt ứa ra, dàn dụa trên mặt.
Và trong nhà không ai còn nghe thấy một âm thanh nào nữa. Cả hai mẹ con nàng đã chết.
Nhưng kỳ lạ sao, trên gối, bênh cạnh khuôn mặt người vợ đã chết, còn thấy khuôn mặt người chồng đã chết cũng đang yên giấc
VƯƠNG TRÍ NHÀN
(Dịch qua bản tiếng Nga )

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2009

1000 năm trước, ông cha ta quan niệm về lẽ thịnh suy

Thân như điện ảnh hữu toàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

(Thân người như bóng chớp, có rồi lại trở lại không
Như muôn cây cỏ mùa xuân tươi tốt, đến mùa thu khô héo
Ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy, lòng không sợ hãi
Vì thịnh suy nối tiếp nhau(chỉ) như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọc cỏ)
Thị đệ tử - Vạn Hạnh thiền sư

Sau 1000 năm, lẽ "thịnh suy" trong cuộc đời nầy là gì?? Mỗi người có mỗi cách lý giải riêng... Chỉ biết mệt mõi quá, dùng triết Thiền để giải nguy cho cái đầu sắp nổ tung ra đây! Bi giờ mình mới NGỘ ra, trên trái đất nầy có dòng sông THIỀN vẫn âm thầm chảy, nó cuốn phăng mọi ưu phiền sầu nảo mà con người gặp phải. Anh B phê bình mình còn hay sa vào những cái "vụn" quá! ... Thật là khó? Tách bạch ra để làm người thánh thiện với ánh hào quang thanh thoát ? Hơi bị khó đấy! - Dưới chân Như Lai vẫn còn đầy những chúng sinh oằn mình trong bể khổ. Những gương mặt biến dạng đi của các Vị La Hán trong chùa Tây Phương há chẳng phải là một điển hình đó sao ? Thôi thì , lúc nào bế tắc hãy ráng tìm về với với những triết lý sâu lắng của Thiền ( Dù có rất và rất nhiều chỗ không thể nào hiểu ra được) Nếu hiểu được thì trên thế gian nầy đâu có chỗ đứng cho THIỀN . Thôi, cứ đi vào rồi sẽ rõ. Từ trong góc khuất của tâm linh, mình sẽ tìm ra sự huyền diệu khi bắt gặp chân lý.... Cứ vững tin là như vậy. Môt ngày bình tường nữa sắp qua đi...

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2009

La Sơn Phu tử nói

筭 來 世 事 金 能 語
Toán lai thế sự kim năng ngữ
說 到 人 情 劍 慾 鳴..
Thuyết đáo nhân tình kiếm dục minh ..
..................
Gẩm lại sự đời vàng biết nói
Nhắc tới tình người kiếm muốn reo

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2009

- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím

- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím/ Em có chồng rồi, trả yếm lại anh! - Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanhYếm em em mặc, yếm gì anh, anh đòi! Bài ca dao rất gần gũi với nhiều người, cũng không có nhiều dị bản. Một số đặc điểm thi pháp gây ấn tượng là kết cấu, ngôn ngữ, thể thơ và biểu tượng.
1. Kết cấu:Hai vế có quan hệ đối lập về hình thức Đây là một khúc ca đối đáp giữa một người nam và một người nữ. Chúng ta chưa bàn đến câu 1 và câu 3 vội, vì 2 câu này bắt đầu là một câu đưa đẩy thuộc thể phú trong nghệ thuật cấu tạo một bài ca dao. Và dù hoa cúc vàng có nở ra bất kỳ một màu sắc gì khác thì nó cũng không làm thay đổi ý nghĩa đích thực của câu 2 và câu 4. 2 câu đầu là một lời ca dao, 2 câu sau là một lời ca dao khác, và chúng có quan hệ đối đáp - đối lập nhau về hình thức. Bởi trên bình diện ngôn ngữ, chúng ta thấy đó có thể là một cuộc đòi yếm/trả yếm và sự chối từ, một cuộc đòi - trả không thành công. Sự đa dạng của những phán đoán về nội dung Chúng ta thử minh xác xem đây là một cuộc trả yếm hay là một cuộc đòi yếm.Vì đây là một khúc ca được thể hiện trong một buổi hát đối đáp nào đó nên nội dung đích thực của nó chỉ là một giả thiết. Tuy nhiên, dù chỉ là một giả thiết thì giả thiết đó cũng phải phản ảnh được tâm tình chung của quần chúng thì mới được quần chúng lưu truyền cho tới ngày nay.
Có 2 giả thiết:
Giả thiết 1: Nếu cô gái hát trước thì đây là trường hợp xin trả yếm. Ta có thể nói xuôi ý câu này như sau: Đây là chiếc yếm anh tặng em khi chúng mình yêu nhau, nhưng nay vì duyên nợ không thành, bây giờ em đã có chồng, nên em xin trả chiếc yếm này cho anh. Và chàng trai đã trả lời một cách dịu dàng: Quả là anh có tặng em chiếc yếm đó, thế nhưng bây giờ em đã mặc nó và vì vậy bây giờ nó là của em. Nó đâu còn là của anh nữa mà bảo anh đòi!
Giả thiết 2: Nếu người con trai hát trước thì đây lại là đòi yếm. Lời người con trai thật cương quyết: Ngày trước tôi có cho cô một cái yếm. Nay cô đã có chồng cô phải trả lại cái yếm đó cho tôi. Cô gái đốp chát lại một cách đanh đá: Này, tôi bảo cho mà biết, yếm tôi đang mặc thì nó phải là yếm của tôi chứ yếm gì của anh mà anh lại đòi! Vô duyên! Xét về phương diện tâm lý, đã có can đảm đòi lại cái yếm mà mình đã cho người mình yêu, dù rằng người yêu của mình đã ôm cầm sang thuyền khác, thì đó là một hành vi không còn tình nghĩa. Đã không còn tình nghĩa thì giọng điệu phải gay gắt. Giọng điệu của chàng trai đã gay gắt thì giọng điệu của cô gái cũng phải chua ngoa cho tương xứng. Cứ xét theo giọng điệu thì giọng điệu của câu 2 không thể là giọng điệu của một người “đòi nợ” và giọng điệu của câu 4 không thể là giọng điệu của một người “bị đòi nợ”. Chữ “em” và chữ “anh” trong câu 2 và trong câu 4 nghe hiền lành, tràn trề tình cảm. Thử là giả thiết 2, bài ca dao phải được chuyển cách xưng hô như sau: - Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím Cô có chồng rồi cô trả yếm cho tôi - Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanhYếm tôi tôi mặc, yếm gì anh anh đòi! chứ không thể là cách xưng hô “anh-em” “em-anh” tình tứ như thế được. Vả lại, anh con trai nào lại chẳng nhớ nằm lòng câu ca dao này: Bắc thang lên hỏi ông trời Tiền cho gái có đòi được không? Bắc thang lên hỏi ông trăng Của chàng cho thiếp nói năng thế nào? Tuy nhiên, không đồng tình với hai cách hiểu và lý giải đó, tôi cho rằng bài ca dao thể hiện sự nuối tiếc về một tình yêu đẹp trong quá khứ. 2 câu đầu theo tôi là lời nói của chàng trai, chàng cất lên lời đòi yếm, nhưng mục đích chính là để hờn trách người con gái đã lấy chồng. Biết bao yêu thương vẫn còn chứa trong những câu thơ tám chữ đó. Người con trai chắc hẳn không muốn đòi lại chiếc yếm thật sự. Bởi "tình đã cho không lấy lại bao giờ" (Xuân Diệu).Tình cho không biếu không mà lị . Có thể anh đòi lại vì sợ nếu giữ nó, cô gái sẽ không dứt khoát với hoàn cảnh mới, cô sẽ vấn vương và sẽ khổ. Cũng có thể, anh muốn ướm lời để xem tình cảm của người con gái hiện giờ ra sao. Còn 2 câu sau là lời cô gái, dù đã có chồng nhưng thái độ của cô rất cương quyết không trả lại kỷ vật của người yêu - dải yếm đã trao cho mình trước đây. Hành động ấy thể hiện nỗi đau hiện tại trong lòng cô gái và sự nhớ thương một mối tình mà cô không nỡ lìa bỏ. Vì thế, cô từ chối trả yếm, từ chối một cách yếu ớt bằng lời nói. Hãy đọc lại "Yếm em em mặc, yếm gì anh anh đòi !". Câu thơ phá cách của một câu thơ 8 chữ, đay đi đay lại ngôn ngữ xưng hô mà hẳn trước đây, hai người hay nói với nhau "em" - "anh". Giữ yếm lại như hành động giữ một kỷ vật, tình yêu của chúng ta tuy không thành nhưng cũng không đáng phải "sòng phẳng"đến thế, không cần phải xoá mọi dấu vết về nhau. Sự không trả lại chiếc yếm chứng tỏ tình yêu của cô đối với chàng trai. Tình yêu ấy quan trọng hơn tất cả những đòi hỏi khác. Em giữ tình yêu ấy thì đấy là một niềm an ủi cho anh, và cho cả em rồi còn gì ! Hiểu như thế, chúng ta sẽ thấy cả hai con người này đều rất đẹp, diễn biến tâm lý của họ rất logic với lời ca dao trữ tình tha thiết này. Do vậy, về hình thức, bài ca dao là 2 lời có quan hệ đối lập nhau nhưng thực chất, có sự thống nhất về tình ý.2. Biểu tượngYếm :Áo yếm không chỉ đơn giản là thứ trang phục của người phụ nữ xưa mà còn có những ý nghĩa và giá trị về tinh thần cũng như nghệ thuật. Cái yếm đã đi vào những câu ca dao, tục ngữ, những câu thơ lãng mạn, những câu chuyện tình vương vấn với những mảnh yếm thắm lụa đào làm ngơ ngẩn lòng người.Hình ảnh chiếc Yếm đã để lại bao nuối tiếc, ngợi ca trong lòng các thi nhân ở mọi thời. Không chỉ thơ ca dân gian, mà những nhà thơ của thời hiện đại đều “phải lòng” yếm. Yếm trở thành ngôn ngữ trao gửi tình yêu. “Trời mưa, trời gió kìn kìn/ Đắp đôi giải yếm hơn nghìn chăn bông”. Và “Ước gì sông rộng một gang/Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”. Chiếc cầu dải yếm không có trong thực tế nhưng lại là chiếc cầu đẹp nhất và gợi cảm nhất trong ca dao. Ý nghĩ đó thật táo bạo nhưng cũng thật đằm thắm. Ở đây, chiếc yếm trở thành biểu tượng cho khát vọng tình yêu mãnh liệt của những chàng trai, cô gái lao động xưa. Chiếc yếm còn là cái cớ cho các chàng trai tỏ tình “Hỡi cô mặc áo yếm đào/Đi trong đám hội có chồng hay chưa?”. Chiếc yếm còn là nỗi nhớ nhung, mong đợi của kẻ xa quê “Mình về mình có nhớ chăng/Ta về như lạt buộc khăn nhớ mình/Ta về ta cũng nhớ mình/Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao”. Nữ sĩ Xuân Hương của chúng ta đã hoạ bức hoạ bằng thơ hình ảnh thiếu nữ với chiếc yếm đào nửa thực, nửa ảo “Lược trúc biếng cài trên mái tóc/Yếm đào trễ xuống dưới nương long/Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm/Một lạch đào nguyên suối chửa thông” đã làm cho chàng quân tử dùng dằng đi chẳng dứt... Nguyễn Bính thì đau khổ khi thấy “em đi tỉnh về”: “Nào đâu chiếc yếm lụa đào/Chiếc khăn lưng đũi nhuộm hồi sang xuân”... Thông thường, người phụ nữ tự chọn vải, chọn màu rồi tự cắt may lấy cái yếm để dùng. Thế nhưng, đôi khi chiếc yếm cũng được sản xuất hàng loạt để đem bày bán. Và từ đây, chiếc yếm đã là một tặng phầm hết sức thân tình để trở thành những kỷ vật rất được trân trọng của người phụ nữ. Có thể là một chàng trai mua một chiếc yếm để tặng người yêu: Anh mua cho em cái yếm hoa chanh Ra đường bạn hỏi, nói của anh cho nàng! Có một chàng trai khen một cô gái mặc chiếc yếm thắm bé bé xinh xinh. Chàng khen “người cắt cũng khéo, người khâu cũng tài”. “Người” ở đây chưa xác định là ai. Thế nhưng, ngay mấy câu tiếp chàng lại xác định chính chàng đã thêu nhạn, thêu hoa trên chiếc yếm: Hỡi cô yếm thắm lòa lòa Yếm nhiễu, yếm vóc hay là trúc bâu? Hay là lụa bạch bên Tàu? Người cắt cũng khéo, người khâu cũng tài! Một đàng anh thêu nên nhạn Hai đàng anh mạng nên hoa Yếm ấy anh để trong nhà Khen ai mở khóa đem ra cho nàng! “Khen” thì ai khen? Và “ai” ở đây là ai? “Yếm ấy anh để trong nhà” và chắc là “anh” đã cất kỹ lắm, có thể là trong rương và chìa khóa “anh” giữ. Vậy thì “ai” có thể “mở khóa đem ra cho nàng”? Còn ai trồng khoai đất này nữa chứ? Chính chàng đã tự khen mình tạo nên chiếc yếm xinh đẹp và chàng đã tự tay mang ra tặng cho nàng. Và chàng lại tự khen cái hành động tỏ tình tha thiết của mình. Và cũng từ cái việc tặng yếm này, mới dẫn đến bài ca dao như chúng ta đang phân tích. Như thế, lời mở đầu bài ca dao là lời của chàng trai là cách hiểu đem lại một hiệu quả thẩm mỹ rất lớn.Mô-típ biến hoá biểu tượng cho sự đổi thayKết cấu của mô-típ: A hoá /nở ra... BVí dụ: - Bao giờ cá gáy hoá rồng ...- Ngày đi trúc chửa mọc măngNgày về trúc đã cao bằng ngọn treNgày đi em chửa có chồngNgày về em đã con bồng con mang.Ở trong bài ca dao này là: Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tímvà Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanhÝ nghĩa: nói lên sự đổi thay. Đấy có thể là một câu đưa đẩy quen thuộc của ca dao, nhưng ở đây, nó biểu hiện trong lời người con trai là sự ngỡ ngàng và nỗi đau thành thật, biểu hiện trong lời người con gái là sự khẳng định một cách đau xót sự thật ấy, cái quy luật "nhất thành bất biến" ngang trái và trớ trêu kia, nhưng trong lời nói người con gái, cô như muốn đưa ra một niềm an ủi từ cái lẽ không thể chống lại được tạo hoá. Như vậy, phân tích những đặc điểm thi pháp cho chúng ta cách hiểu rất bất ngờ về bài ca dao này. Bài ca dao là một sự biện minh cần thiết của tình yêu không đi đến hôn nhân. Đấy là một cách "giải quyết" không những hợp tình hợp lý mà còn đẹp cho cả hai người.

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2009

VĂN HÓA CÁ TRA

Nhiều ngày ngồi thừ phía trước hiên nhà với những suy nghĩ không đâu?… Bắt đầu một năm mới bằng việc gì… Mơ hồ thiệt, chẳng lẻ mình quá cầu toàn khi nhìn thấy chỗ nào cũng là ngang trái…Câu chuyện đầu năm với mọi người là gì?
- Cách đây 3 năm, cũng vào những ngày nầy, sau tết,– Lúc đó, mình đưa ra khái niệm” TRIẾT LÝ CÁ TRA” mọi người im lặng (tán thành hay tẩy chay cũng không rõ…)“ Số là trong lúc nghỉ tết, về Tam Bình, quê ngoại, được cùng sinh hoạt với cả xóm ngay trong đợt nổi lên phong trào nuôi cá tra xuất khẩu… Cá ăn và lớn nhanh dữ quá, mỗi lần cho ăn, chúng chen lấn với nhau trắng cả mặt nước…Mà ngộ thiệt, con cá tra gắn liền với người dân từ bao đời, mỗi khi ăn chúng tranh giành với nhau quyết liệt, mỗi con đều có ba chiếc ngạnh rất sắc bén, nhưng khi tranh ăn chúng không bao giờ làm tổn thương lẫn nhau. Bằng chứng cụ thể là khi thu hoặch, không có con nào bị xây xát. Ừ nhỉ ! cũng là vì miếng ăn nhưng “ Ăn mà không đâm nhau chảy máu” mới đáng suy nghĩ chứ…! Con người( Không có cái ngạnh nào hết), vì miếng ăn có đâm nhau không? Có lẻ, nên đưa vào kho tàng tiếng Việt mình cụm từ “ Văn hóa cá tra” để ẩn dụ nói lên một cách sống trong muôn vàn cách sống như hiện nay…

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2009

Nhớ TẦN HOÀI DẠ VŨ

Rất nhiều lần trước lúc ra đi
Mỗi góc phố một khoảng trời xao xuyến
Và cơn gió trong mắt chiều hò hẹn
Thổi vào giấc mơ tôi suốt những đêm dài

Chúng ta đã đi qua những buổi mai
Những buổi trưa của một thời đã mất
Tiếng còi tàu lưng chừng ngưng tiếng hát
Thành hợp âm rời ở cuối cuộc chia tay

Ngoài ba mươi, ngoài năm mươi ở chặn đời nầy
Gặp nhau tình cờ, lại xa nhau rất vội
Phút ra đi... ngập ngừng không nói
Đã nói nhiều trong ánh mắt ưu tư

Cái nắm tay bên cửa sổ toa tàu
Như nốt nhạc rơi bên ngoài nổi nhớ
Như thời gian vơi đi trong nổi nhớ
Kỷ niệm đầy vị ngọt của tương lai

Những dòng sông trôi đi cuộc sống rất còn dài
Cơn gió cũ qua rồi đời vẫn mát
Mỗi góc phố một khoảng trời xao xuyến
Lại đưa ta về trong mắt của tình yêu
( Đêm mưa nhớ bến sông Tần)