Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2009

MỘT CÂU HỎI LỚN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHO QUÊ HƯƠNG



HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA



Trước khi đề cập đến nội dung, xin mạn phép đặt ra các giới hạn trước để có cách nhìn nhận và định lượng, định tính thông tin cho chính xác hơn

- Thứ nhất : Đây là một vấn đề lớn, phạm vi khái quát và tầm nhìn ở cấp vĩ mô. Trường Cao đẳng Bến Tre chỉ mới là 01/16 cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh, chưa kể hơn 50 cơ sở dạy nghề tư nhân. Nguồn nhân lực thì chúng ta có thể đào tạo, còn nguồn nhân lực chất lượng cao ( nhân tài) thì chỉ có thể gọi là bồi dưỡng( Phát hiện- bồi dưỡng). Hơn nữa, các kết luận dự báo về thực trạng xưa nay ít nơi nào chịu làm, bản thân tôi cũng chưa nắm vấn đề nầy, vì vậy, xin được phép chỉ đưa ra những khuyến nghị chớ không nâng lên tầm giải pháp

- Thứ hai : Xin được đề xuất thay thế khái niệm “xây dựng”” trong chủ đề chung của Hội thảo, vì nói đến xây dựng là đề cập đến vấn đề đầu tư, đến việc tiến hành các bước từ gốc đến ngọn. Đội ngủ trí thức của chúng ta đang có và sẽ có xuất phát từ nhiều nguồn. Hơn nữa, công việc đầu tư, kể các quy họach, quản lý, phát triển trong thời gian qua, chúng ta chưa làm được gì nhiều, nên thay khái niệm “ xây dựng bằng khái niệm “ quản lý phát triển “ theo chủ quan cá nhân thì có vẻ ổn thỏa hơn. Gọi cả tên chủ đề của Hội thảo là “ Quản lý phát triển đội ngũ trí thức Bến tre thời kỳ 2010- 2020”


- Thứ ba : Xin được phép không nêu lại những vấn đề có tính lý luận, cũng không trình bày theo các trình tự của một bản tham luận, tôi chỉ xin nêu lên một số vấn đề chính gắn với thực trạng của tỉnh nhà , qua đó , nếu được, xin mời cả khán phòng cùng tranh luận để tìm ra những giải pháp khả thi trong việc “ Quản lý phát triển đội ngũ trí thức Bến tre thời kỳ 2010- 2020”

Xin phép được đi vào các ý chính
1. DẪN LUẬN
Theo quan niệm xuyên suốt của Đảng ta, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi cuộc cách mạng. Sau đổi mới, Văn kiện Hội nghị TW6/khóa VII nêu rõ’’ Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần , trong sáng về đạo đức là động lực xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của CNXH. Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải quán triệt việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Nghị quyết TW2/ khóa VIII cũng nhấn mạnh ‘’… muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của phát triển nhanh và bền vững
Vấn đề phát triển nguồn nhân lực, hay chính xác hơn là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực không còn là việc riêng của ngành giáo dục mà hiện nay đang là sự quan tâm của tòan xã hội.

1. Nguồn nhân lực ( Human resoure)
Có nhiều khái niệm về nguồn nhân lực. Nhiều quan điểm thống nhất cho rằng nguồn nhân lực là dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động. Tùy theo mỗi nước, độ tuổi lao động có những quy định khác nhau . Phổ biến là 15 cho tối thiểu và tối đa là 60, có nước 65- 75. Đặc biệt ở Úc không giới hạn tuổi tối đa
Nguồn nhân lực, đặc biệt, chất lượng của nguồn nhân lực quyết định cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Chất lượng nầy phụ thuộc vào sự đầu tư cho con người . Nguồn nhân lực chỉ có giá trị là động lực, là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội khi và chỉ khi nó được đặt trong quỹ đạo phát triển và sử dụng (Sự phát huy hiệu lực)
Nguồn nhân lực xét ở hai khía cạnh: Cá thể và tập thể
Cá thể có hai mặt: Tự nhiên và xã hội. Như vậy, cá thể chỉ trở thanh nguồn nhân lực khi nó có khả năng lao động và phát huy hiệu quả trong một tập thể. Đạt được điều nầy, cá thể đó đã đóng góp cho sự phát triển xã hội
Cả hai mặt của cá thể ( Bản năng và ý thức) đều có sự đóng góp của giáo dục
Hiện nay, để đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc đầu tiên phải nghĩ đến là đội ngũ những Thầy – cô giáo. Đây chính là cơ sở , là xuất phát điểm của quá trình đào tạo – bồi dưỡng nguồn nhân lực . Để làm tốt khâu nầy, cần nắm vững các đặc trưng mới của nền kinh tế tri thức:
Đó là,
- Khoa học công nghệ ngày càng mở ra nhiều lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn
( công nghệ Nano, công nghệ logic, công nghệ không độc hại , công nghệ chân không …) Muốn nhập công nghệ mới thì phải đào tạo con người thích ứng với từng lọai công nghệ ấy. Công nghệ mới bao giờ cũng thể hiện được nhiều điểm ưu việt hơn công nghệ trước đó, ít công đọan hơn, tiêu tốn năng lượng ít hơn, chi phí ít hơn… nhưng luôn mang lại kết quả tốt hơn. Tư tưởng công nghệ luôn là đặc điểm bao trùm đối với họat động sản xuất tác nghiệp. Ngay cả trong giáo dục cũng đã có ‘’ công nghệ giáo dục’’

- Thông tin ngày nay rất lớn, ở thời điểm nấy, ai nắm được nhiều thông tin sẽ luôn giành được ưu thế trước. Dĩ nhiên, lợi thế so sánh luôn nằm trong tay họ. Nhà trường của chúng ta cũng vậy, phương châm ‘ dạy cái mà xã hội cần chớ không dạy cái đã có ‘’cần phái được quán triệt trong tất cả các khâu của quá trình đào tạo nguồn nhân lực
- Khẳng định nhân tố con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, giáo dục là đòn bẩy cho sự phát triển, sự gắn bó giữa giáo dục với cuộc sống và lao động xã hội là sự gắn bó sống còn, gắn bó máu thịt

Trong số các nguồn lực cần thiết cho sự thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định. Tuy nhiên, vai trò quyết định của nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ trở thành hiện thực khi người lao động được đào tạo để có và phải có năng lực - phẩm chất cần thiết đáp ứng được những yêu cầu mà quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra hiện nay, kể cả tương lai. Nghị quyết Đại hội lần thứ 10 của Đảng nhấn mạnh: Đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2. Nguồn nhân lực chất lượng cao
Năng lực trí tuệ của con người hiện nay biểu hiện ở khả năng áp dụng những thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Đó là khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp, nghĩa là, kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp,... Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng đi vào chiều sâu càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hoá ngày càng cao của đội ngũ lao động nhằm đạt được năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn hơn nhiều lần.
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, người lao động còn phải biết chủ động hội nhập quốc tế. Khác với toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là hành động chủ quan, có chủ đích của con người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh của đất nước mình. Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hoà nhập nhưng không hoà tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và nhất là bảo vệ được nền độc lập dân tộc. Trong điều kiện như vậy, người lao động ngoài bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức dân tộc cao, còn phải có trình độ trí tuệ ngang tầm đòi hỏi của thời đại, tối thiểu cũng là của khu vực. Điều này đòi hỏi phải cơ cấu lại đội ngũ lao động theo hướng có lực lượng nòng cốt, lực lượng dẫn đầu và nhân tài. Đây là một cơ cấu sắp xếp tất yếu trong phân công lao động xã hội hiện nay :
- Rõ ràng, lực lượng nòng cốt của đội ngũ lao động là những công nhân lành nghề – những người trực tiếp sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng cả ở trong nước và nước ngoài. Do đó, họ phải có một trình độ trí tuệ nhất định để tiếp thu và làm chủ được công nghệ tiên tiến. Hơn thế nữa, với những tri thức khoa học và những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình sản xuất trực tiếp, người công nhân không những sử dụng các công cụ lao động hiện có, mà còn có thể sáng chế ra những tư liệu lao động mới, hoàn thiện kỹ thuật và phương pháp sản xuất. Lực lượng lao động dẫn đầu là đội ngũ trí thức. Với cơ cấu đồng bộ trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, quản lý kinh tế – xã hội, văn hoá - văn nghệ, ... Họ phải thành thạo chuyên môn, nghề nghiệp, có năng lực tiếp thu, chọn lọc và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại, những tinh hoa của văn hoá, văn minh thế giới, những di sản văn hoá dân tộc và văn hoá phương Đông vào thực tiễn Việt Nam. Đồng thời, họ phải có năng lực sáng tạo về lý thuyết cũng như thực hành, nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của đất nước. Đội ngũ trí thức phải thực hiện có hiệu quả các chức năng: nghiên cứu, thiết kế, tham mưu, sáng tác; thực hiện, thi hành, ứng dụng, phát triển; giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện; quản lý, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo... Bộ phận nhân tài có vai trò thực sự quan trọng trong đội ngũ lao động. Bộ phận này là hạt nhân có chất lượng cao, có năng lực khai phá những con đường mới mẻ trong nghiên cứu khoa học để đạt được những thành tựu mới, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Số lượng của đội ngũ này không nhất thiết phải đông, nhưng thực sự là đội ngũ các nhà khoa học đầu đàn, tiêu biểu cho tinh thần trí tuệ của dân tộc.
- Một yếu tố không thể thiếu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao là sức khoẻ. Sức khoẻ ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần. Mọi người lao động, dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất. Hơn nữa cần phải có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau hết sức khó khăn và khắc nghiệt.
- Nền sản xuất công nghiệp còn đòi hỏi ở người lao động hàng loạt năng lực cần thiết như: có kỷ luật tự giác, biết tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, có tinh thần trách nhiệm trong việc bảo dưỡng thiết bị máy móc, phương tiện sản xuất, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, lương tâm nghề nghiệp,..., nghĩa là phải có văn hoá lao động công nghiệp. Một trong những phẩm chất quan trọng nhất của văn hoá lao động công nghiệp là tinh thần trách nhiệm cao đối với chất lượng sản phẩm. Giờ đây, nền kinh tế hàng hoá với cơ chế thị trường đòi hỏi phải thay đổi kiểu quan hệ đó, tức là người tiêu dùng, chứ không phải người sản xuất, qui định mặt hàng và chất lượng hàng hoá, còn người sản xuất phải đáp ứng nhu cầu đó. Trong nền kinh tế thị trường, việc sản xuất hàng hoá chất lượng cao với giá cả hợp lý cũng đáp ứng lợi ích của chính người sản xuất. Tuy nhiên cũng chính trong nền kinh tế thị trường, dưới áp lực của lợi nhuận, của động cơ kiếm tiền bằng mọi cách, đã xuất hiện một hiện tượng tiêu cực mới, đó là nạn làm hàng giả. Tình trạng lẫn lộn trắng đen, thật giả trong thị trường hàng hoá ngày một tăng đã tác động hết sức xấu đến quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Trong khi chưa hạn chế, tiến tới chấm dứt nạn làm hàng giả, thì chưa thể nói đến một nền kinh tế thị trường cạnh tranh lành mạnh. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế phải có văn hoá lao động, vì chỉ có như vậy mới đáp ứng được lợi ích lâu dài của họ cả với tư cách là người sản xuất và người tiêu dùng, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn đụng chạm đến các vấn đề phức tạp trong quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Nó đòi hỏi người lao động phải có hiểu biết và trách nhiệm cao trong việc bảo vệ, cải thiện môi trường sinh thái vì sự phát triển bền vững, nói một cách ngắn gọn là phải có văn hoá sinh thái. Đây là vấn đề cấp bách, sống còn không chỉ đối với mỗi quốc gia – dân tộc mà còn đối với nền văn minh nhân loại. Vì vậy, bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, bao gồm mọi lứa tuổi, song đối với người lao động trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải được nâng lên thành văn hoá sinh thái. Khái niệm “văn hoá sinh thái” bao gồm cả quan điểm, nhận thức, thái độ, hành vi, lối sống, cách ứng xử đúng đắn của người lao động đối với tự nhiên; cả việc phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hậu quả của sản xuất công nghiệp gây ra; cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên, thích nghi với tự nhiên và đấu tranh chống lại việc tàn phá tự nhiên.
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá, người lao động còn phải có năng lực xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và thời đại. Truyền thống được hiểu là: phức hợp những tư tưởng, tình cảm, những tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí, v.v. của một cộng đồng người đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy, truyền thống có cả mặt tích cực và tiêu cực dù muốn hay không vẫn để lại dấu ấn vào hiện tại, và ở mức độ nhất định, có thể còn ảnh hưởng đến sự vận động của tương lai. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi người lao động vừa biết kế thừa những giá trị truyền thống, vừa biết phát triển những giá trị đó lên tầm cao hơn, đồng thời tiếp thu những tinh hoa quý giá của văn minh nhân loại. Nếu không biết kết hợp truyền thống với cách tân để vượt lên, để hội nhập, để tìm mọi cách bước vào xã hội hiện đại thì tương lai chỉ là sự tụt hậu.
Nguồn nhân lực chất lượng cao của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải là “những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị – xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng”. Việc xác lập các chuẩn mực, định hướng các giá trị xã hội để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là hết sức cần thiết. Chìa khóa vạn năng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là phải nâng cao giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện "chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa", chấn hưng nền giáo dục Việt Nam.
Theo Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc( UNDP) phát triển nguồn nhân lực có 5 nhân tố phát năng
- Giáo dục và đào tạo
- Sức khõe và dinh dưỡng
- Môi trường
- Việc làm
- Sự giãi phóng con người
Những nhân tố nầy gắn bó và tùy thộc lẫn vào nhau. Nhân tố giáo dục và đào tạo là cơ sở của tất cà các nhân tố khác
Phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao cuộc sống, từ đó là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Phát triển nguồn nhân lực


Phát triển kinh tế- xã hội Nâng cao chất lượng cuộc sống

Đề cập đến vấn đề “ tài nguyên con người”, đến nội dung phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng các yêu cầu mà kinh tế - xã hội đặt ra, ai cũng đều thống nhất “… phải ưu tiên đầu tư cho giáo dục! – Việc nầy từ Trung ương đến cơ sở đều đã làm, đã có nhiều động thái tích cực và cụ thể trong các giải pháp đầu tư.

Vấn đề mà Hội thảo lần nầy cần chỉ ra là:
- Nguồn nhân lực hiện nay trong tỉnh sẽ vận hành ra sao dưới sự quản lý – phát triển bằng những kế họach khả thi trong điều kiện thực tế của tỉnh nhà ?
- Nguồn nhân lực chất lượng cao, con số nhỏ nhưng ở vị trí nòng cốt có đủ về lượng và mạnh về chất để gánh vác nhiệm vụ đầu tàu trước những thời cơ và thách thức trong xu thế hội nhập hay không ?
- Đội ngũ trí thức của Bến Tre có an tâm làm việc, có hăng hái sáng tạo để ngày càng làm ra nhiều giá trị gia tăng cho tỉnh nhà hay không? Sáng tạo là bệ phóng để nhảy vọt, đi tắt, đón đầu sự phát triển. Chúng ta rất cần những sản phẩm trí tuệ mang tính sáng tạo. Vì vậy, đối với nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải có sự quan tâm đặc biệt
2. CÁC KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT
2.1. Khuyến nghị
+ Địa phương cần có một bộ phận chuyên trách để tổ chức và tập hợp đội ngũ trí thức hiện có. Hiện nay, CLB nhân sĩ trí thức trong MTTQ Tỉnh, LHH tỉnh, các bộ phận chức năng trong Ban TCTU, Sở Nội vụ đều có nhiệm vụ liên hệ với đội ngũ trí thức của tỉnh nhà. Cần rà soát, củng cố lại để từ nơi nầy có thể tư vấn, đề xuất các chương trình, các giải pháp phát huy nội lực của đội ngũ trí thức kể cả việc lôi kéo, huy động các nguồn lực từ bên ngoài địa phương.
+ Cần lưu ý 5 nhân tố phát năng mà UNDP đã gợi ý. Đặc biệt, nên chú ý phần môi trường làm việc và các chính sách mang tính chất thu phục và lôi cuốn
2.2. Các giải pháp đề xuất
+ Công bố rộng rãi Chương trình Mekong 50 của tỉnh, Đề án 322, các Chủ trương đào tạo- bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao mà địa phương tranh thủ được như học bổng của các trường Đại học quốc tế dành cho Bến Tre trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua ngành giáo dục và bộ phận chuyên trách của Sở Nội vụ để tuyển chọn đúng- đủ- kịp thời, không để xãy ra tình trạng bế tắt trong khâu thực hiện.
+ Đẩy mạnh khâu tạo nguồn bằng kế hoặch đào tạo – bồi dưỡng ngoại ngữ. Trước mắt, nên huy động và liên kết tổ chức các lớp tiếng Anh theo hướng mở rộng và nâng cao.
+ Khai thác và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực chất lượng cao sau khi được trang bị những kiến thức cần thiết cho ngành nghề cần phải được bố trí – sử dụng đúng với chuyên môn đào tạo. Năng suất và chất lượng của lao động nghề nghiệp chỉ và chỉ khi người lao động ấy làm đúng với phần việc chuyên môn của mình
Trong sử dụng cần lưu ý :
+ Môi trường làm việc
Lao động tác nghiệp trong các lĩnh vực có liên quan và chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố:
- Môi trường chính sách: Gồm các chế độ đãi ngộ dành cho người lao động với tư cach là nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh các yêu cầu đúng, đủ, kịp thời, cần phải thể hiện bằng những ưu tiên với tính chất khích lệ; nó có thể khiến cho chủ thể toàn tâm, tòan ý vì công việc, ngược lại nó cũng có thể làm tắt dần ngọn lữa nhiệt tình, chôn sâu sự sáng tạo
- Môi trường vật lý: Trong thời đại thông tin, hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, môi trường làm việc của con người có biên độ giới hạn rất lớn. Nó không chỉ dừng lại ở mức độ diện tích phòng làm việc, trang thiết bị, các công cụ trợ giúp hiện đại mà còn bao hàm một ý nghĩa lớn hơn. Đó là việc ứng dụng, khai thác hết tính năng - giá trị sự dụng của các trang thiết bị, các công cụ trợ giúp theo hướng hiệu quả nhất .
- Môi trường tâm lý: Sự thõai mái về tinh thần, bầu không khí tâm lý tập thể, sự tương quan về môi trườngvật chất , cảnh quan đều có những tác động đến việc hình thành bầu không khí tâm lý tập thể. Môi trường tâm lý tốt có một phần do sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý của các phần tử bên trong và bên ngoài hệ thống, là uy tín cá nhân, độ tin cậy của thông tin quản lý được xây dựng và hình thành trong tiến trình cộng tác với nhau
Xét cho cùng, khi môi trường vật lý chưa hòan thiện, môi trường chính sách còn nhiều bất cập thì môi trường tâm lý giữ một vai trò rất quan trọng
Có thể nội dung bản tham luận nầy chưa đi thẳng vào những vấn đề chính. Tuy nhiên, nguồn nhân lực chất lượng cao, có thể tạm hiễu là một tầng lớp người có khả năng làm việcchịu làm việc tại địa phương từ nay đến 2020 cần được đối xử như là một trí thức với hai mặt ưu và nhược mà lý luận đã tổng kết. Những vấn đề lãnh đạo, quản lý, khai thác và sử dụng đội ngũ nầy cần có một quyết sách mang tầm cỡ địa phương. Không khéo, chúng ta sẽ bõ qua nhiều cơ hội, lãng quên nhiều trường hợp và trên hết là chúng ta không ngăn được hiện tượng chảy máu chất xám như một số nơi đang gặp phải ……

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2009

CHỜ SÁNG

Lại có chuyện nữa đây! – Đang dạy, LĐ trường gọi lên gấp và giao cho nội dung phải hòan thành một bản tham luận về vấn đề ‘’ Đào tạo – bồi dưỡng nguồn nhân lực cho tỉnh nhà giai đọan 2010- 2020. Giải pháp thực hiện’’
Yêu cầu hòan thành sớm để góp chung trong Hội thảo:”Xây dựng , phát triển đội ngũ trí thức Bến Tre thời kỳ 2010- 2020’’
Đầu tiên là tên gọi Hội thảo? ( Xây dựng, phát triển…) Khái niệm ‘’xây dựng’’ trong ngành xây dựng cơ bản là phải thiết kế và thi công từ nền mống, cừ cọc… rồi sau đó mới làm tiếp, có thể là Nhà , có thể là Biệt thự nhiều tầng…Đội ngũ trí thức của Bến Tre hiện nay được hình thành từ nhiều nguồn, hơn nữa, quá trình họ chuyển từ ‘’ngủ''sang ‘’thức’’ và ngược lại có được đầu tư từ ban đầu không ?? Gọi là xây dựng có ổn không??
Đụng đến việc ‘’ training’’ và ‘’cultivations’’ cho con người là lãnh địa khó đây! Khó không phải mình không có thông tin, không biết ‘’ CÁI’’ và ‘’ CÁCH” mà chính là vấn đề quá lớn, có quan hệ kéo theo, đụng chạm đến nhiều chính sách, đến cơ chế sử dụng, đến lối làm việc theo kiểu ’’ăn đong’’, đến những cái đầu chỉ quen làm theo sự vừa lòng của cấp trên…

Chủ thể đào tạo và bồi dưỡng là đội ngũ trí thức. Không phải đến bây giờ, người ta mới thấy tầm quan trọng của ‘’ kẻ sỉ’’ Đặt ra vấn đề phát triển nguồn nhân lực’’ để biết phải đối xử như thế nào với người tạo ra nó đúng là một mũi tên trúng hai cái đích… Cũng được thôi, mình sẽ hỏi Vương huynh nên làm thế nào đây. Thật ra, tham luận cũng như ‘’đá ném ao bèo’’, mình khoái tranh luận hơn. Có lẻ nên sắp ra những ý gợi mở để cho mọi người cải nhau chơi … Ở đâu cũng vậy, khi mà BÊN THI CÔNG và bên SỬ DỤNG chưa có ‘’Khế ước hợp đồng’’ chặt chẽ thì con thuyền giáo dục do những kẻ sỉ đưong thời chèo chống vẫn hát mãi bài ‘’ Thuyền và biển của Phan Huỳnh Điểu thôi ! Đổ hết cho giáo dục mà trong đó cụ thể là nhà trường thì ‘’ oan cho thảo dân’’ quá !

‘’ Lấy người thương mình hay lấy người mình thương’’? Làm sao để cho người ta thương mình? Ai chỉ ra được chỗ nào thương mình ? Có lẻ, nên đặt lại một vấn đề ‘’ vỡ lòng’’ về phương pháp luận thiết kế’’: Công việc cần con người hay con người đẻ ra công việc? Trí thức của Bến Tre, hay nguồn nhân lực của Bến Tre trả lời những vấn đề nầy? .. Dù sao mình cũng phải viết thôi, lại phải làm mất thời gian của Vương huynh nữa rồi ….!

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2009

THẦY CỦA CON TRÒ CÓ ĐƯỢC GỌI LÀ ‘’THÁI THẦY’’ KHÔNG NHỈ?

`1111111111111111111111111111111111111111111111111111
Chữ nghĩa Việt có vô vàn cách lý giải. Có những chữ thân quen, gần gũi, có những chữ sâu xa lắng đọng. Chữ và nghĩa của tiếngViệt là kết quả đồng hành của quá trình Ông cha ta cọ xát với thực tế, sáng tạo ra. Có thể xem đây là quốc bảo, là di sản, là …( Là cái gì lớn lao, thiêng liêng, đa dạng, phong phú, ...)
Ngồi nghĩ đến công việc hằng ngày, tự dưng thấy có gì đó ngồ ngộ : Bình thường, người xung quanh gọi mình là Thầy ! Thực ra khái niệm Thầy là một danh xưng dùng để chỉ những ai có nghề và nghiệp trong ngành giáo dục.Tự hỏi bản thân mình có được xếp vào vị trí Thầy chưa ?. Trên lý lịch và bảng hiệu công chức đeo trước ngực ghi rõ : Giảng viên chính ( Hơn được giảng viên phụ và giảng viên ?) Giảng viên, dùng để chỉ những người đứng lớp ở cấp học cao đẳng trở lên đến sau đại học ) Giáo viên, dùng để chỉ những người đứng lớp ở bậc Mầm non, phổ thông và trung học chuyên nghiệp. Giảng theo nghĩa « đùi » là rao giảng, là trình bày, là gợi ý là đưa ra vấn đề... thậm chí, trong một chừng mức nào đó, những điều đưa ra của giảng viên chỉ là ở mức khởi đầu. Cấp học cao, nội dung và phương pháp trình bày phải mang tính đặc thù như trên để người học tự tìm đến những kiến thức mà mình cần( Kiến thức nầy thật sự là của họ, chớ không phải của ông Thầy trao cho ) ? Giáo thì có khác hơn, trong trình bày vấn đề có yêu cầu định hướng dạy dỗ rõ nét. Giáo là phải dạy ! Mục tiêu của giáo là những phạm trù mang tính chất định tính được vạch ra trong từng mục tiêu cấp học. Giáo dục, giáo huấn từ xưa đến nay đã cõng trên vai sứ mệnh nầy. Như vậy( Có thể quy kết) lao động phức tạp của giáo viên nặng hơn giảng viên không ??
Trong thứ bậc của học hàm ở Việt Nam có hai chức danh : Phó giáo sư và giáo sư . Phó giáo sư hay giáo sư là hai danh hiệu Nhà nước phong cho những người trong quá trình là Thầy đã có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp’’ trồng người ‘’ Giảng viên chính, gọi là thợ dạy đã qua chọn lọc, thi cử mà nên, được xếp cùng bậc lương với phó giáo sư có vô tình hạ thấp danh vị của người Thầy giáo cấp cao không ??
Tôi có người Cha, những năm 50, đậu trung học đệ nhất cấp, cuộc đời dong ruỗi không biết thế nào Ông xin vào một chân dạy học tại tỉnh Trà Vinh. Bước khởi đầu, ngạch bậc chỉ là ‘’giảng tập viên’’. Nội chức danh thôi cũng đủ thấy ngày xưa, ngành giáo dục chọn lựa người rất thận trọng. Hơn 30 năm sau, Ông về nghỉ với chức danh giáo viên tiểu học thượng hạng/ hạng ngạch I ( Hạng III, hạng II rồi mới tới hạng I). Lần lại dấu chân của người xưa, qua những nơi Ông đã dạy, tôi vẫn gặp lại những con người đã hơn 60, một ít nhỏ hơn đều nhắc về Thầy mình với lòng tôn kính. Ngày giỗ- chạp, thỉnh thoảng vẫn có một vài Bác học trò cũ tới viếng. Công việc của Thầy giáo xưa, -. Một mệnh đề tuy đơn giản nhưng mà làm được.
Bi giờ, cũng thông qua dạy chữ để dạy người. Cũng truyên truyền rao giảng những bài luân lý, đạo đức của người xưa nhưng cái đạt được sao mù khơi quá ? Có lẻ, con người hôm nay đang có quá nhiều cơ hội, đang đứng trước nhiều sự lựa chọn ??
Gần đây, bổng thấy mình đã sắp tới hồi ‘’hết vai trò ‘’. Có thể đã già cổi rồi. Số là vài năm gần đây, vào lớp, trong mối quan hệ với học viên, mình nhận ra những đứa con của học viên cũ của mình (Tôi không bao giờ gọi những người từng học trong lớp của mình là học trò cả, chỉ gọi là học viên vì họ đều là những người có tuổi, họ đi học vì ngày trước chưa có điều kiện được học). -Trước đây Cha / Mẹ em học Thầy, bây giờ em cũng học Thầy ? Tiếng Thầy mộc mạc, khô khan mà gần gũi. - Như vậy là Thầy mai mắn lắm đó , được dạy cho cả một nhà thì tuyệt chứ sao !- Nói như vậy nhưng lòng buồn vô hạn. Mấy năm qua, mình có được tiếp sức đủ để không nói lặp lại những điều đã nói với Cha/Mẹ của các em kia không? Thế hệ sau phải cao hơn thế hệ trước, mình vẫn một phong cách cũ (Dù có chuyên nghiệp hơn) thử hỏi buồn không nhỉ ?- Phải chi mình lúc nào cũng như Trương Tam Phong, lúc nào cũng có chiêu thức mới là luôn ở vị trí ‘’ tuyệt chiêu’’ để cho những thế hệ Trương Vô Kỵ luôn gọi là Thái sư phụ thì hay biết mấy ? Vòng đời lẫn quẫn, dù sao mình cũng mới chỉ là giảng viên ( dù có chính) Người ta chắc dễ tha tội cho những giảng viên hơn những Ông Thầy đó chứ ? GIÁO SƯ- PHÓ GIÁO SƯ (Thua GS một chút về công đức ) THẦY GIÁO- GIẢNG VIÊN – THỢ DẠY ... ( Có ai minh mẫn, xếp lọai theo thứ tự từ cao xuống thấp giùm tôi. Không biết đằng sau THỢ DẠY là những ai ?

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2009

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN AN

Giáo dục, sự tái tạo xã hội nếu nhìn ở góc độ chức năng. “ Non sông Việt Nam … có trở nên vẽ vang hay không là do ở sự học tập của thế hệ trẻ hôm nay. Thế nhưng, học cái gì? học như thế nào? Hoàn toàn phụ thuộc vào sự thiết kế của người làm giáo dục hôm nay. Học là điều kiện tồn tại của dạy. Phải xem người học cần gì, từ đó định ra nội dung và cách dạy. Lý thuyết là như vậy ai cũng nói được nhưng khi làm thì khác. Bấy lâu nay, chúng ta bơm vào giáo dục quá nhiều quan điểm, đặt ra nhiều yêu cầu cách tân thông qua những lần cải cách giáo dục.. kết quả được những gì?
- Được nhiều thứ đó chứ! Được thay đổi mẫu tự chữ cái (e) mở đầu trong bảng chữ cái thay vì (a) như các nước tiên tiến hay dùng. Được thay lòng tự trọng của người Thầy bằng cách phải “ làm theo” yêu cầu của quy chế một cách cứng nhắc. Bi giờ, có ai cắc cớ hỏi, lòng tự trọng của người Thầy đi lạc ở đâu chắc không biết đường đâu mà tìm… Người Thầy trong tâm cảm của người Việt được thay dần bằng khái niệm “ thợ dạy”. Người “ gieo chữ cho đời” được thay thế bằng cụm từ “ cán bộ giáo dục” Nghe mọi người vinh danh là “ cán bộ giáo dục” tưởng như lớn lắm, rộng lắm .. Ừ! Lớn thiệt đó chứ! Có khi còn hoành tráng nữa là khác ?
- Ngày xưa, trò xưng “ con “ với Thầy, khoảng cách giữa Thầy và trò nghiêm trang, kính cẩn. Hình ảnh người Thầy trong mắt của trò là điều gì đó rất thiêng liêng..
- Ngày nay, cách tân, khoảng cách giữa Thầy trò rất gần gũi, trò có thể đặt ra yêu cầu với Thầy, có thể ra giá, có thể mời Thầy đi ăn, uống, nhảy nhót?? Thầy không còn cái quyền nhận xét, đánh giá học trò của mình theo cái khách quan ( Tất cả vì học sinh thân yêu mà?) Làm anh “ thợ dạy” có những cái hay của nó. Được hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, được học sinh cảm tạ vì được chỉ dẫn tận tình để vươn lên bậc cao trong nấc thang điểm số…
- Chủ nhật vừa rồi, ngồi với Ông Anh là một nhà giáo đã về hưu, được nghe một chuyện “ Đoạn trường Tân An! ( Có thật 100%)
- Số là khi còn đứng lớp, một bữa nọ, Anh mình được cử trong đoàn dự giờ các tiết dạy của đồng nghiệp (Công việc nầy thuộc về quy định mà!) Ngồi trong Văn phòng, Anh thấy một cô giáo trẻ xách một chiếc lồng chim thật đẹp đi ngang. Thắc mắc? Rà soát lại, hôm nay theo lịch dự giờ đâu có tiết nào thuộc môn Sinh vật ?? Thế rồi việc gì đến vẫn phải đến. Anh vào dự giờ đúng ngay lớp của giáo trẻ kia.
- Sau khi làm hết các thao tác kiểm tra bài cũ, đến mục giảng bài mới, cô giáo trịnh trọng đưa chiếc lồng chim lên cao và hỏi” các em biết đây là gì không?” Học sinh đồng thanh trả lời” Thưa cô đó là cái lồng chim” Cô giáo khen giỏi-giỏi (Không biết cô khen cái gì?), tiếp, - Thế trong lồng nhốt cái gì các em ? Lại cũng đồng thanh “ Thưa cô đó là con chim! – Giỏi/ giỏi … Các em biết đây là con chim gì không nào? .. Thưa cô là con chim sáo! Quá giỏi, các em thiệt giỏi! (Cô giáo khen nức nỡ). Đúng, đây là con chim sáo, như vậy hôm nay cô sẽ dạy cho các em bài học về Võ Thị Sáu!
Ông bạn già của tôi kể đến đây mà đôi môi còn run run dù chuyện nầy đã qua lâu rồi ! Cời ơi Cời! xin được đặt lại chuyện nầy với tên là “ Đoạn trường Tân An”? Những mẫu chuyện tương tự như trên chắc diễn ra không ít trong các ngôi trường trên đất nước nầy!

Hỡi những người muôn năm cũ, hồn bây giờ ở đâu? Có nghe không?
Rồi mai đây biết ai còn có nhớ
Hay quên đi như bụi phấn ngày xưa
Có một thời giọng Thầy vang ở đó
Còn gì không hay không một âm thừa?

Thôi bõ đó, từng giờ chơi giờ học
Tiếng trống ban mai, áo trắng ngập ngừng
Lối cát buồn chợt nức nỡ bâng khuâng
Thầy cúi xuống nghe lòng mình nặng trĩu

( Nặng hay nhẹ đây hỡi những người muôn năm cũ?)

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2009

’Lo bò trắng răng…!’’

Mình viết ra những ý tưởng nầy có lớn quá không ? Việc quốc gia đại sự chắc nên để cho những nhà hoặch định chính sách, phận thấp hèn, làm được gì mà cay đắng kiểu ‘’lo bò trắng răng…!’’ Mấy hôm nay, do phải làm việc, phải nói, phải mỗ xẻ, phải phân tích cụm từ mục tiêu giáo dục : Nhiều mĩ từ quá, mục đích, trạng thái mong muốn mà con thuyền giáo dục phải cập bến được vẽ ra quá tốt ! (Chuyện chữ nghĩa nói hoài chán lắm, bản thân mình cũng không khoái chuyện sính chữ..)
Nhân có dịp trao đổi với vài bạn hiền, mình cảm thấy… hình như ta đang đi trên con đường???- Phải không? – Với cách làm giáo dục (Nội dung và phương pháp, kể cả liên quan với cách đánh giá ) như hiện nay, chúng ta có đáp ứng được đơn đặt hàng của xã hội hay không nhỉ ?
Mục tiêu giáo dục nhìn ở góc độ nhân cách là tri thức- kỹ năng- thái độ, cái mà ta hay nói với nhau là thông qua dạy chữ để dạy người
Nầy nhé, cứ lần theo từng bước đi của lịch sử:
Giáo dục phong kiến đã cho ra lò những kẻ sĩ, thuộc làu làu tất cả các giáo lý mà thánh hiền để lại. Phong kiến là thứ bậc, là tôn tri trật tự, người có học trong thời nầy đã làm được cái việc mà chủ thể của xã hội đó yêu cầu, đã bảo vệ được ( trong một giai đoạn) quyền lợi và địa vị thống trị của nó..

Nền giáo dục cách mạng, đặc biệt là giáo dục của miền Bắc XHCN trước 1975 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử của nó. Nếu nhìn một cách sòng phẳng giữa bên đặt hàng và bên sản xuất thì thời kỳ nầy, giáo dục đã hoàn thành sứ mạng một cách tuyệt vời:- Hàng loạt những con người do nhà trường đưa ra đều cùng chung một suy nghĩ, chung một quyết tâm “ đi về hướng bom rơi”. Lúc nầy, được ra mặt trận, được dâng hiến cho lý tưởng độc lập dân tộc là mệnh lệnh của trái tim. Tất cả đều đập chung một nhịp. Khác đi là bị cả cộng đồng tẩy chay, người thân xa lánh...
Giáo dục hiện nay ra sao? Chúng ta tiến hành công việc “ tái tạo xã hội” trong những điều kiện rất thuận lợi, được rộng mở giao lưu với nền văn minh của cả nhân lọai, được nhìn thấy tận mắt những mặt mạnh và yếu của công nghệ các loại đang phát huy tác dụng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội( Có cái đóng học phí, có cái người ta cho không? ). Thế mà, nếu thử làm một phép điều tra xã hội học, hỏi một câu hỏi giản đơn” Sau nầy, vào đời các em sẽ là gì? Chắc chắn chúng ta sẽ được nghe câu trả lời quen thuộc: - Đi làm! Tất nhiên rồi, phải lao động chứ… Nhưng nếu hỏi làm ở đâu? Thì chúng ta sẽ giật mình! - Nếu có điều kiện (Cũng có thể bằng mọi giá) thì xin được làm ở các Cty có vốn đầu tư nước ngoài ! Hởi ơi! Buồn và lo sợ thật? Một đất nước, đi vào hội nhập với nhiều nguy cơ và áp lực mất/còn mà chèo chống nó chỉ là những tư tưởng làm thuê thì xin hỏi có đáng báo động không ??- Nếu những “Human” tương lai đều đồng thanh trả lời: sau khi học xong, tôi sẽ bằng mọi giá để trở thành 1 ông chủ thì hạnh phúc biết chừng nào. Có thể ban đầu chỉ là ông chủ nhỏ, nhưng dù sao vẫn là một suy nghĩ độc lập, một tinh thần dân tộc nối tiếp truyền thồng trong quá khứ . ( Không sợ nguy cơ bị đồng hóa)
Tôi tự hỏi:- Sức mạnh tinh thần truyền thống của dân Việt nằm ngủ ở đâu trong cái kho chứa quá lớn về các nội dung giáo dục? Hay tại Ông Thầy chưa đánh thức, khơi dậy trong quá trình dắt nhau đi về phía trước? Tại cái gì nữa? Tại Anh tại Ả, tại cả đôi đường!
Tôi chưa đi Tây, chỉ tiếp xúc qua thông tin mà biết được. Nghe nói, ở các nước văn minh, việc tạo ra tính tự lập cho con cái đã được các ông bố, bà mẹ chuẩn bị ngay từ nhỏ. Có thể hai cha con phải mua hai tờ Báo giống nhau để xem (Không có chuyện” Bố xem xong rồi cho con mượn đọc !) Tài sản Bố, Mẹ làm ra có thể sẽ hiến cho Giáo hội , phần cho con chỉ là số ít. Cứ thế đời nầy sang đời khác vẫn vậy. Không có chuyện Anh, Em kéo nhau ra tòa vì chia gia tài ! Chắc cũng không có chuyện “ Hy sinh đời Bố củng cố đời con ?…( Đừng ai hỏi ở đâu vậy? Tui tự nghe và tự “ chế “ ra đó??)
Liệu “ trường học thân thiện, học sinh tích cực, liệu với cách làm giáo dục như hiện nay'' , chúng ta có làm ra những chủ nhân tương lai của đất nước không khi mà xung quanh ta, các nước láng giềng đều đang có những chiến lược phát triển hoành tráng ??
Bác Huy Cận ơi, cho cháu mượn:
Một câu hỏi lớn không lời đáp
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau
??

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2009

NGÀY MỚI NỮA ĐÂY !

Sáng nay, trở lại bục giảng sau gần 2 tháng im hơi lặng tiếng. Một đợt tập trung bồi dưỡng mới bắt đầu, hơn 100 con người với vẻ rạng ngời, lạc quan ánh lên từ đôi mắt đã động viên mình rất nhiều…
Bài bản đã có sẳn, nhưng sao mình không bao giờ muốn nói cái gì đã chuẩn bị trước? Nó cũ kỹ quá, sáo mòn quá… Lấy một vị dụ của Châu Đại ca về cách vào bài của một cô giáo nọ giảng dạy bài phân số mà lòng buồn rười rượi ...
Mời cả giảng đường cùng tham gia bàn về một số vấn đề thời sự cho mọi người năng động hơn:
+ Đổi mới? - Chắc chắn rồi, phải đổi mới từ suy nghĩ,nội dung, cho tới phương pháp, từ chuyện dạy dỗ cho đến quản lý. - Có cái mới để mà đổi chưa? Chưa có! Như vậy phải đành phải chấp nhận sử dụng cái cũ thôi…( Buồn 2 phút)
+ Bàn về triết lý giáo dục? -Những chòi giáo dục, những nhà giáo dục thập chí cả những biệt thự giáo dục đang ngồi đây mà khi đề cập đến vấn đề nầy tất cả đều ú - ớ ( Chắc tại vấn đề ít người quan tâm và đưa lên thành chuyện lớn nên mọi người xa lạ với nó ?? Hay tại có chữ triết lý nghe cao xa quá nên không ai buồn nghĩ đến. Làm giáo dục “ăn đong” quen rồi nên mọi người quên hết … ( lại buồn 2 phút nữa)
+ Nhắc lại câu” giáo dục là tự đốt cháy mình để thắp sáng cho người khác Nghe sao ngượng quá. Thời đại “ Mì ăn liền”, mọi thứ đều có thể là hàng hóa, chuyện học trường nào, điểm số ra sao cũng có thể trao đổi được, liệu câu nói trên có còn ý nghĩa nữa không ( Lại buồn tí nữa )
Kỳ nầy chắc phải sắp xếp lên TP Ban Mê thuộc để ngồi uống café, nghe bài … em pleiku, má đỏ môi hồng …. mà cảm nhận nỗi buồn muôn thuỡ của dân cao nguyên quá ! ! Giải lao, bước ra khỏi giảng đường, mây trời xám xịt… Chắc sắp mưa nữa đây!

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2009

TIẾNG ĐÊM


Đêm nằm nghe tiếng con đò lẻ bạn
Vẫn đi về không ngủ lẫn trong sương
Ở nơi ấy, tiếng lòng thương nhớ lắm
Một miền quê, tôi vẫn muốn đi về

Tôi mang theo những âm thanh quen thuộc đi trong cõi đời nầy mà mỗi khi nghe lại, lòng trĩu nặng, cái cảm giác bâng khuâng, thương nhớ đến nao lòng… Lúc ấy, những ngày tháng đã đi qua trong quá khứ bổng hiện về trong sự hoài tiếc không nguôi …
Ngày ấy, vào những năm 67- 68, nhà tôi ở gần đường cái, đọan đường từ Bình Đức về Chợ Vòng Nhỏ- Mỹ Tho. Cứ vào khoảng 2 – 3 giờ sáng, tôi lại nghe tiếng xe Lam quen thuộc. Khoảng 10 phút có một chuyến. Đây là những chuyến xe chở hàng hóa của người ngoại thành vào Chợ Mỹ Tho. . Tôi không để tâm trên những chuyến xe đó chỡ ai và chỡ những thứ gì, chỉ nhận ra những âm thanh nặng nề gầm rú của những chiếc xe cũ kỹ gồng mình mang theo bao thứ trên đời để cho kịp buổi chợ sáng mai. Thứ âm thanh ngày xưa không có gì đáng nhớ, chỉ ngấm dần trong giấc ngủ chập chờn của cậu con trai mới lớn. Bây giờ, đâu còn xe Lam! Bây giờ đâu còn thứ âm thanh đã ở một góc nhỏ nào đó trong tâm hồn tôi, nuôi tôi, giục tôi và theo tôi lớn lên qua mỗi chặng đường. Bổng dưng, thèm được nghe tiếng xe Lam chở hàng rên xiết nặng nề trong đêm vắng quá …


Không biết tự bao giờ, tiếng ghe máy đi trong đêm đã ăn sâu vào tâm thức của tôi? Cũng ngày ấy… những tháng ngày của thập niên 60 thế kỷ trước, những ngày làm anh nông dân bất đắc dĩ sau 75, có những lúc ngồi một mình trong đêm vắng chờ cất Vó, nhiều đêm, rất nhiều đêm, tôi đã đi về cùng những chiếc ghe thương hồ bằng việc theo dõi âm thanh xa gần của nó. Trong đêm, mọi vật đều im lìm, chỉ có tiếng gió lật dậy những tàu lá dừa đang ngủ và những âm thanh xa gần từ những chuyến đi về của ghe máy trên sông . Tiếng bình- bịch xa gần, những âm thanh không hiễu tự bao giờ đã đi vào lòng, đã ăn vào gốc rễ trong tận trái tim tôi. Bây giờ sống ở đô thành, thỉnh thoảng, trong những đêm trời lặng gió… nghe xa xa tiếng được tiếng mất, âm thanh của những con đò lẻ bạn đi về trên sông… Sao mà nhớ da diết quá; nhớ ngày xưa, nhớ con sông, nhớ cái bến nước, nhớ những cây bần làm cột mốc để tôi đo thời gian, tính khoảng cách sau mổi chuyến đi về. Nhớ những tháng ngày gần như đầu óc không cần lo toan nghĩ ngợi gì cả. Ngày xưa bình dị và trong trẻo quá ! Lòng chợt hỏi:
- Không biềt sau nầy, mấy em nhỏ, thế hệ của con tôi có còn nặng lòng với sông nước không nhỉ? Có còn thèm được ăn trái bần chua không thể tưởng nhưng vẫn ăn được một cách ngon lành như tuổi thơ tôi ngày ấy chăng? Có cảm nhận hết hiện tượng những con đom đóm không chịu ở riêng lẻ mà chỉ gom lại trên một cây bần để tạo nên những đóm sáng kỳ diệu làm cho con người phải miên man suy nghĩ và thốt lên lạ thiệt?


- Bìm bịp kêu nước lớn …. Tiếng bìm bịp kêu sao mà buồn quá! Theo con nước lớn- ròng tiếng bìm bịp cũng đã đi vào lòng tôi như một chất đinh dưỡng cần thiết. Ai đã từng có những buổi chiều tắt nắng trên sông khi cuộc hành trình chưa tới bến, nghe tiếng bìm bịp kêu như thúc giục hãy về nhanh để được ngồi bên bữa cơm đạm bạc mới thấy hết nỗi trống vắng và cảm giác nhỏ nhoi, cô đơn đến chừng nào ? Bìm bịp kêu buồn lắm, nhưng nó vẫn vang lên trong vòng đời quanh quẩn nầy. Hãy chú ý, những âm thanh sau cùng của tiếng bìm bịp, nó nhặt dần, nó hối thúc, nó nhỏ dần, nhỏ dần và tan ra, tan ra trong cõi vô thường. Tiếng chuông chùa vẫn vậy, đằng sau âm thanh nghe được đó vẫn là âm thanh, của sự lan tõa và tan biến, âm thanh của chiêm nghiệm . Có phải không, đó là âm thanh của sự tỉnh/thức ? Lâu lâu, tôi vẫn muốn được nghe tiếng bịp bịp kêu nước lớn. Bìm bịp kêu buồn quá nhưng vẫn muốn nghe. Lại lo sợ, lo giống chim nầy sẽ bị tuyệt chủng vì sự săn bắt của con người? Lại buồn tiếp …

Sông vẫn trôi, trôi
Dòng đời cũng trôi
Lòng người, ở lại
Sông nước, bến đợi
Còn ta là người lỗi hẹn chuyến đi về …!