Thứ Ba, 5 tháng 1, 2010

SO LE


Tàu dừa làm nắng so le
Nửa trong cũng thẹn, nửa ngoài cũng trơ
Gió đưa cành lá vẩn vơ
Nắng so le ấy cũng là nắng chung
( NGỤY VĂN)
Bổng dưng nhớ lại bài Nắng trưa của Ngụy Văn, đọc từ lúc nào cũng không nhớ…Nhìn vạt nắng so le, nghĩ đến những ngang trái của cuộc đời…cũng đậm nhạt và ngắn dài vô tình hiện ra trước mắt?- Người dễ thương, dễ mến thì vắn số, vội vã đi xa. Kẻ bóc ngắn cắn dài với đầy toan tính thì nhởn nhơ trước mắt?? Cứ cái điệp khúc kêu ca sầu khổ nầy chắc một lúc nào đó nó sẽ trở thành sống sượng, thậm chí có thể là lố bịch trong khi trái đất vẫn quay, mọi vật xung quanh đều xô tới…
Ghé thăm một Anh bạn. Chủ động tìm hiểu chứ Ban không kêu ca gì cả…; Gần như những bất hạnh trên thế giới nầy đều quy tập vào con người Anh: Lấy vợ muộn màng trong nghèo khó. Vợ bệnh hiểm nghèo mất để lại cho Anh một đứa con không ra con, người không ra người. Cháu bị bại não…Anh sống hiền lành và có lòng với bạn bè. Gần đây, Anh bị chủ đất cũ đuổi bởi lẻ Anh có một cái nhà nho nhỏ ở mặt tiền. Thế lực không, tiền bạc không, Anh đành xuôi tay cho số phận. Đúng là “ … nước mắt chảy vào trong cho nỗi đau dịu ngọt”. Thật ra, chỗ Anh ở là của gia đình Bố mẹ Anh trước 75 ( Hình như cũng thuê mướn gì đó?) Bi giờ chủ có thế lực, có giấy tờ ( Từ thời Tây đánh Pháp?) trưng ra và đòi lại… Khốn nạn cho Anh, chẳng biết đi đâu, cũng chẳng có khỏang tiền nào để mà xoay trở cho cuộc di dời; Anh cũng đang mang bệnh hiểm nghèo…
Vậy đó, kẻ ăn không hết, người lần không ra…
Tiếp tôi trong gian nhà rách nát, Anh bước vội ra đường để mua thiếu gói trà đãi khách… Đắng quá! Tôi không giúp gì được cho Anh! Cũng đắng quá …
Lại một dấu lặng buồn trôi trên khuông nhạc…

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2010

LỜI XIN LỖI KHÔNG CÓ CHỖ ĐỨNG


25/01/1010 tổng kết 04 lớp CBQL. Còn 20 ngày nữa, mình phải chuẩn bị mọi thứ từ A đến Z. Một chút gì đó hơi xao lòng. Bấy lâu nay, công việc cũng như vậy, vẫn một mình lo toan và rồi tất cả cũng qua như những chuyến đò bình thường lặng lẽ qua sông. Giấy chứng nhận cho 200 học viên, chương trình buổi lễ, thư mời khách, các bài diễn văn lo cho người khác đọc, khâu hậu cần đặt tiệc…khóa 25 là hơn 20 lần mình đã làm thế… oãi quá đó chứ? Tự dưng mình tự hỏi:-Qua thời gian như vậy, mình đã làm được gì trong công tác bồi dưỡng? Có thổi vào các Anh chị học viên một luồng gió mới nào không ?
Cultivations có nguồn gốc từ tiếng La tinh (Culture) là trồng trọt, cũng có nghĩa là bồi dưỡng, cũng có hàm nghĩa là văn hóa. Lấy trường hợp của bản thân để rút ra điều nói với Anh em là phải cập nhật thông tin cho cái đầu vốn bảo thủ của mình. Thời đại mới, con người ta không hơn nhau về sự hiểu biết mà lợi thế hơn về lĩnh vựC phương pháp là có kẻ trước người sau. Ngày đầu vào Ngành, tôi chỉ là một giáo viên tiểu học làm nhân viên hành chính của Ty Giáo dục. Do áp lực của công việc, do phải thích nghi trong điều kiện mới, bản thân lần dò từng bước đi học. Học cho mình, học để thành thạo công việc. Trong những ngày lần dò ấy, mình ngộ ra vấn đề phương pháp là chiếc chìa khóa để mở những cánh cửa của công việc. Bốn lớp sẽ xong, ba lớp còn đang học… Không theo kịp với cái mới mình cảm thấy có lỗi với đồng nghiệp!Những Anh Chị em đã và sắp làm công việc của một nhà quản lý. Biết làm sao bi giờ khi xung quanh ta còn qua nhiều định kiến và bảo thủ. Làm theo đơn đặt hành của cấp trên chớ không phải vì lợi ích của chính người tiêu thụ sản phẩm làm ra. Thế là bất cập, là lối mòn, là nửa vời…
Còn nhiều năm nữa mới về hưu mà nói oãi, nói chán là có tội với mọi người. Nói lạc quan, iêu đời thì không biết chỗ nào để lạc quan, không biết iêu cái gì !Vậy đó ! một sự lãng phí gậm nhấm dần lòng hăng say , yêu thích với công việc mình đang làm. Cáo chung ? không biết dùng từ nầy có ổn không khi mà cả ngành đang đưa ra những khẩu hiệu về đổi mới quản lý ? Bắt đầu từ khâu nào ? Không ai chỉ ra được...
Thôi, 20 ngày nữa gặp lại nhau rồi sẽ nói tiếp. Dù sao, mình cũng nợ Anh em một lời xin lỗi!...

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2010

ANH BÌNH NÓI, ( Với thế hệ người Việt thứ hai ở hải ngoại )



Tâm hồn mỗi người nằm trong vốn ngôn ngữ mà nó sử dụng. Không chỉ là tiếng mẹ đẻ, khi ta sử dụng thêm được một ngôn ngữ là tiếp thu thêm được một phần hồn của quê xứ mà ngôn ngữ đó hình thành. Vì vậy dân tộc nào cũng quan tâm dạy cho các thế hệ nối tiếp ngôn ngữ của tiền nhân, của quê hương. Khi một người không còn sử dụng được ngôn ngữ của cha mẹ nữa, nó đã đánh mất nơi chốn đi về của tâm hồn, nó đã đánh mất chỗ dựa quá khứ. Ngôn ngữ chính là một thứ tế bào gốc giúp tái tạo mối liên hệ của mỗi con người với thế hệ trước và với chính mình. Nghe, biết và hiểu là những phạm trù khác nhau. Một đứa trẻ không còn nghe và nói được ngôn ngữ của cha mẹ nữa thì nó vẫn còn có thể biết cha mẹ muốn nói gì nhưng nó hoàn toàn không thấu hiểu được nữa các cảm xúc hàm chứa trong cái nó vẫn tưởng là mình nghe biết! Hãy thử quan sát khả năng của âm nhạc, âm thanh của bản nhạc không chỉ đơn thuần là một tần số dao động mà nó hàm chứa các cảm xúc và chỉ nhờ cách kí âm mới lưu giữ và truyền đạt tới người khác được. Bí mật của ngôn ngữ chính là ở chỗ đó (bí mật của thần chú cũng là ở chỗ đó); chính là ở chỗ nó không chỉ là cú pháp, văn phạm,.v.v. mà ở chỗ nó lưu giữ và chuyển tải các cảm xúc. Một người Việt - đứng trước một sự việc -không khi nào có cùng thang bậc các cảm xúc như một người Anh. Nếu người gốc Việt này đánh mất ngôn ngữ của mình thì chính nó đến một lúc nào đó sẽ không thể hiểu nỗi chính bản thân, lúc đó mới bắt đầu một bi kịch về tâm hồn! (Trích dẫn nguyên xi ý tưởng của Vương huynh )

Thế hệ người Việt thứ hai ở hải ngọai làm sao có thể cảm nhận được cái gì là ‘’ canh rau muống’’, cái gì là”cà dầm tương” mỗi khi nhớ quê, nhớ về cội nguồn. Làm sao có thể nhận ra được “ngọn gió mát sau lưng” để lòng dạ bồi hồi “ bổng nhớ người dưng” thế nào? Gió sao gió mát sau lưng/Dạ sao dạ nhớ người dưng thế nầy. Và câu ca :
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên mụ, canh gà thọ xương

dịch ra tiếng Anh, rồi nhờ một người nào đó có chút am hiểu về lục bát của Việt Nam, gắn ghép vần nhịp và cố dịch ra tiếng Việt theo văn cảnh sẽ trở thành:
Bão đưa tre trúc tới nhà
Lũ La cùng với Lạc đà chạy chung
Vợ trời đánh một hồi chuông
Gọi về ăn bát canh xương gà hầm
Cũng có nhiều cố gắng đó chứ? – Gió mạnh đến đổi tre trúc ngả nghiên thì là bão thôi. La đà hình như là từ ghép đẳng lập, như vậy cho nó chạy chung thì không còn cách nào hay hơn ?? Thiên mụ là vợ trời(wife god) … canh gà thọ xương thì là soup chicken old. Gà sống lâu năm là gà già, cứng lắm chỉ có nước hầm bằng nồi áp suất mới tận dụng được ?. Vậy đó! Botay.com được chưa ?

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2009

HÃY CHO QUA


Anh Bình chữa lại cho mình cụm từ laissez passer đúng theo cách nói của dân Tây: ‘’Hãy cho qua" Người An Nam mình cũng có triết lý MACKENO ( Mặc kệ nó ), xem ra chữ nghĩa cũng có nhiều chuyện lắm bàn….
Buổi chiều, nhận được cú điện báo việc đi tham dự Hội nghị về giáo dục tương lai…tại Thành phố do Viện NCGD đăng cai tổ chức. Tại sao lại là mình ? Dự để nghe, để biết chớ có nói và làm được gì khi mà nhiều năm, mình ấp ủ bao nhiêu ý tưởng, có lúc cũng mạnh dạn đề xuất, nhưng tất cả đều laissez passer. Phải chi để cho ai đó có tầm, có quyền, có sức chi phối đi dự HN để về chí ít cũng gieo được hạt mầm ý tưởng ?
Sự đời, có những cái không bình thường đều mặc nhiên tồn tại, thậm chí cứ lắp đi lắp lại mà không ai phát hiện thấy có gì nghịch lý. Vậy đó, nó giống như con bướm vàng đậu trái mù u không ăn nhập gì với tiếng ru buồn của người con gái lấy chồng sớm phải quên đi cái thì xuân sắc mà chìm ngập trong cơ cực – nuôi con tới tới…!
Tôi có thói quen phát hiện cái không bình thường nằm chìm khuất trong cái bình thường. Để chi? –Cũng không biết để làm gì …? Thôi thì cứ để mà chơi vậy !

Mấy hôm nay, nghe mọi người nhắc lại câu ca dao :
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên mụ canh gà Thọ xương
( Câu nầy nhiều người biết và thuộc lắm đấy!)
Những ngày ở miền Bắc, tôi được mai mắn kết thân với một sư huynh vốn là người có nhiều đa mang với Hà Nội. Từng lao động XHCN đắp đường Thanh niên mà Anh ta gọi ngày xưa là đường Cổ Ngư. Tôi biết nhiều về Hà Nội, về những địa danh cũng qua con người nầy. Chúng tôi có thói quen bỏ Hội nghị để đi chơi, đi tranh thủ để có thể sẽ không còn dịp nào khác. Lang thang bên Hồ Tây nhiều ngày, được ăn bánh gai cột bằng những chiếc lạt tre nhuộm màu tim tím, không biết gói lúc nào mà bên trong đã ẩm mốc. Không sao! Cứ lau sạch là dùng, bao nhiêu thế hệ đã qua vẫn dùng. Thời ấy, bao cấp, thiếu thốn, khái niệm vệ sinh an toàn thực phẩm người ta chưa quen dùng. Tôi được thăm chùa Trấn Quốc, đền Quan Thánh, được biết con Sâm cầm, được ăn bún ốc Hồ Tây….
Anh bạn tôi giải thích, ngày xưa, xung quanh Hồ Tây là những làng nghề, dân cư sinh sống bằng những nghề truyền thống . Và Anh minh họa băng 4 câu:
Gió đưa cành trùc la đà
Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ
Trấn Võ là tên xưa của chùa Trấn Quốc, Thọ Xương là tên một ngôi làng ven Hồ Tây, Yên Thái cũng là tên một ngôi làng bên Hồ Tây có nghề làm giấy…
Bốn câu ca dao trên là cảm nhận của một nghệ nhân dân gian nào đó khi đứng bên Hồ Tây: Nghe tiếng chuông trong chùa, nghe nhịp chày giả bột giấy từ làng Yên Thái, nghe tiếng gà trưa từ bên miệt Thọ Xương….Trong không gian của một thời khắc: Thu – lạnh – sương lan tỏa trên mặt Hồ Tây …Anh bạn tôi đùa: - Hình như tác giả 4 câu ca dao trên cũng đứng chỗ nầy, (chỗ chúng tôi đứng) tức cảnh -sinh tình mà sáng tác 4 câu để đời như một viên ngọc lấp lánh miêu tả cảnh Hồ Tây...
Trở lại chuyện tréo ngoe ngôn ngữ,
Tiếng chuông Thiên mụ, canh gà Thọ Xương
Tôi có hỏi một anh bạn khác là dân Đại nội Huế chính thống, anh ta nói, ở Huế không có địa danh Thọ Xương! Như vậy, trong một văn cảnh mà gắn hai địa danh cách xa nhau gần 800 km thì quả thật là gượng ép quá !
Vậy đó! Sự đời có những cái tréo ngoe vẫn ngang nhiên tồn tại. Có sao đâu? Cứ cho qua ! cứ Mackeno! LAISSEZ PASSER mà !

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2009

CUỘC SỐNG LÀ NGHỆ THUẬT BIẾT VẬN DỤNG NHỮNG KHẢ NĂNG


Lâu lâu, nghiệm lại ý tưởng nầy mới ngộ ra nhiều chuyện. Khả năng là cái có thể và cũng là cái không có thể thành hiện thực.Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ vận dụng:
- Chiều qua, đội bóng đá Việt Nam thua 0-1, nhiều người bị “xí hụt”. Mình thì không! Lý do đơn giản… nghệ thuật vận dụng những khả năng mà! Sau một thất bại, người ta thường đưa ra nhiều lý do. Tuy nhiên, giả sử trận cầu chiều qua Việt Nam thắng… Bao nhiêu hệ lụy kéo theo…Nhiều người phá sản vì máu đỏ đen( cái nầy không sao, đáng đời vì tội mưu sinh trên những giọt mồ hôi của người khác ). Bệnh say men chiến thắng; cái nầy bất trị, nó làm cho con người ta “ không biết mình là ai…
- Cuộc sống là nghệ thuật biết vận dụng những khả năng. Có lúc, nhìn xung quanh thấy đâu đâu cũng là màu xám. Soát xét lại xem còn những gì để có thể làm công việc của anh thợ vẻ cải tạo cái màu vốn vô cảm đó không.Như vậy là vận dụng, là kiếm tìm. Mấy hôm nay, Báo Tuổi Trẻ và G.S Tương Lai cảnh báo về chuyện học sinh học trong các trườnng Quốc tế, lo cho tụi nhỏ mất gốc. đánh mất… toàn là những cảnh báo mang tầm chiến lược. MACKENO! được không ? Đưa vào nào là ý thức xã hội- tồn tại xã hội…rồi thì dzữ hơn nữa là bản sắc văn hóa dân tộc … Lớn quá . Ở phương Tây có triết lý “LAISSEZ PASSER” cứ để cho nó tự phát triển.Cứ cho nó qua đi .. Người Việt thường có thói quen nói chuyện người khác, hay quen nói chuyện Người mà ít nói chuyện Mình. Quen cách nghĩ áp đặt, thấy cái gì không vừa ý là cứ “ theo tui” “theo tôi” không cần tìm hiểu các cháu HỌC CÁI GÌ – HỌC NHƯ THẾ NÀO, sau khi học thu được cái gì và sự thu họach đó có cần cho mọi người hay không?…Bệnh áp đặt, ông Anh mình ở L.A gọi là “ sự đồng phục trong tư duy”. Thật hết chỗ nói, trong miền sâu kín của con người, cách nghĩ cũng phải theo …! Mà cũng có lý thôi: không nghĩ theo làm gì có chuyện nói theo, mà không nói theo thì làm sao có chuyện ăn theo… cuối cùng theo tất….

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2009

ÔNG THIỆN VÀ ÔNG ÁC


Ở Việt Nam, các chùa Phật giáo thường có thờ hai bức tượng cỡ lớn. Dân gian thường gọi là ông Thiện, ông Ác. Hai ông cưỡi hai con kỳ lân lớn, ông cầm thanh long đao, ông cầm sổ sách, thân hình cao lớn, mắt phượng, mày ngài, oai phong lẫm liệt, ai nhìn vào cũng kính nể. Ông Thiện là ngài Hộ Pháp và ông Ác là ngài Tiêu Diện Đại Sĩ.
Thường thì tượng hai ông được đặt trong nhà Bái đường hay tiền đường, tư thế của hai ông thường chỉ hai tư thế là quay mặt ra ngoài hay hướng mắt vào nhau. Đặc điểm chung của hai ông:
- Bao giờ cũng được tạc rất to, có thể là to nhất trong các tượng trong chùa.
- Có thể đứng hoặc ngồi, có thể có con lân hay sư tử kèm theo, tay thường cầm binh khí hoặc sổ sách, tượng thường có những dải lụa xung quanh mình nhằm thể hiện sự thần thông nhưng cũng tạo tính mỹ thuật.
- Được làm bằng đất sét, giấy bồi, hoặc gỗ.
- Nhìn rất dễ phân biệt, ông Ác thì mặt đỏ, cầm binh khí, dáng dữ tợn, ông Thiện cầm sổ sách mặt trắng hoặc hồng, dáng hiền từ.
Thật ra có rất nhiều cách gọi tên hai ông này, bấy lâu nay dân gian vẫn quen gọi là “ông”, là “ngài”, có lúc gọi là ông Thiện, Ông Ác, nhưng cũng có nơi, có lúc gọi là hai vị Kim Cương, hai vị Hộ Pháp ...
Hai ông Thiện và Ác có nghĩa là khuyến thiện và trừng ác, nó phản ánh đại diện cho phần nào quyền lực của nhà Phật trong việc cứu vớt chúng sinh.
Có tích rằng, “ Thời thượng cổ, vua Tỳ Kheo có hai con trai là Tỳ Văn và Tỳ Võ. Tỳ Văn thì hiền lành, trái lại Tỳ Võ rất hung dữ.
Vua Tỳ Kheo rất hâm mộ đạo đức. Lúc ấy, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ, độ được vua Tỳ Kheo. Vua Tỳ Kheo lo lập chùa để tu niệm và muốn nhường ngôi lại cho con trưởng là Tỳ Văn hiền lành, nhưng lại sợ Tỳ Võ hung dữ không chịu.
Vua Tỳ Kheo lập kế, sai Tỳ Võ đi các trấn vỗ an bá tánh và đến Hàng Châu chiêu mộ anh tài. Nơi triều đình, vua Tỳ Kheo nhường ngôi cho Tỳ Văn, còn ông vào chùa tu niệm.
Khi Tỳ Võ hoàn thành nhiệm vụ, trở về triều, thấy anh mình là Tỳ Văn đã lên ngôi vua rồi. Tỳ Võ liền nói: “Anh hiền lắm, làm vua sao được, dân không sợ đâu. Anh hãy để ngai vàng lại cho tôi”. “Tôi dữ là dữ với kẻ hung ác bạo tàn vô đạo chớ không dữ với người đạo đức bao giờ”.
Tỳ Văn nghe em nói như vậy biết là Tỳ Võ muốn lên làm vua, sợ phải thất lời với vua cha, nên Tỳ Văn vội vàng cầm ngọc tỷ chạy lên chùa để báo cho vua cha sự việc. Nhưng khi Tỳ Văn chạy tới cửa chùa thì vấp té chết, linh hồn thoát xác đi lên cõi Trời.
Tỳ Võ đuổi theo tới nơi, thấy xác của anh mình nằm chết trước cửa chùa, cúi xuống lượm ngọc tỷ cầm lên, bất giác hối hận ăn năn, thấy con người khi chết không đem theo được gì cả, bao nhiêu tiền tài, danh vọng, quyền thế, đều bỏ lại cõi đời, linh hồn chỉ ra đi với hai tay trắng. Tỳ Võ thức tỉnh, quyết bỏ hết sự đời, theo vua cha tu niệm, cuối cùng thì đắc đạo”.


Lời bàn ,
Đó là chuyện xưa, truyền tụng trong dân gian…

-Dữ mà lên trời như Tỳ Võ thì cũng nên dữ ?
-Ngày nay, chúng ta lại thấy hai ông mới. Chức năng của hai ông này hoàn toàn khác hai ông Thiện, Ác. Một ông có khả năng cứu người và một ông có khả năng giết người. Đó là ông “cơ chế” và ông “các lực lượng thù địch”.
???????????????????????

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2009

CHO & NHẬN




Hãy cho nhau niềm hạnh phúc ngọt- lành
Trong cuộc sống đơn sơ mà dễ hiễu
Cái thật gần đừng buốt giá thành băng
Làm đông cứng hạt mầm yêu để sống






( Một kỷ niệm đẹp tại trường THCS NGUYỄN DU Xã Tắc Vân -TP Cà Mau )




Nơi đây, địa chỉ ưom mầm, nơi đào tạo và cung cấp những Thầy- Cô dạy giỏi cho tòan TP Cà Mau. Là trường ngọai ô TP, nhưng được vào học trường nầy không phải dễ, phải “ chạy” và “ chen” mới được nhận vào nếu không phải học sinh nằm trong tuyến …