Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

CHẢY ĐI SÔNG ƠI

Đêm qua mơ được trở về với dòng sông tuổi thơ. Chợt nhớ, tôi có một Anh bạn lớn lên bên dòng sông và hằn sâu trong ký ức những kỹ niệm về con đò- dòng sông. Bạn lớn lên, chứng kiến sự đổi thay theo lộ trình đô thị hóa bổng dưng sợ mất hết nên ghi lại những cảnh cũ, người xưa…con sông của Anh bạn tôi bên bờ Nam là một vùng quê yên tỉnh, sống nép mình dưới tàn cây xanh mướt, mỗi ngày, chắt mót cho người Bờ Bắc, TX Bến Tre, nay là Thành phố BT từ tàu lá chuối khô đến mọi thứ hoa trái trong vườn. Hằng ngày, muốn đi học phải sang bên kia bờ Bắc. Thế là phải qua sông, phải dũng cảm rèn luyện cảm giác mạnh mỗi khi con Đò ngang khẳm lé đé và bị Ông chủ đò mắng như tát nước…



Đấy!
Kỹ niệm không là gì
Khi lòng ta chối bỏ
Kỹ niệm là tất cả
Khi lòng ta cố quên
- Tại sao là cố quên?... ? ... càng cố quên thì lại càng nhớ hơn... cho nên nó là ... ‘’tất cả’’
Mỗi người trong tim, ai cũng có một dòng sông để thương nhớ. Sông, với tôi là nguồn sống, là những chuyến đi về mang đầy vị ngọt của quê nhà. Con sông phía trên Rạch Gầm Xoài mút, phía dưới Cù lao Năm thôn của tổng đốc Trần Bá Lộc mà sau nầy người ta gọi là Cồn Ngũ Hiệp. Bờ Bắc là quê Ngoại, bờ Nam là quê Nội. Lúc còn nhỏ, tôi hay bỏ những cuộc chơi để chạy riết ra mé sông nhìn những chiếc tàu xăng to đùng chạy về phía Nam Vang rồi lấy đất sét, tưởng tượng nắn lại những chiếc tàu ấy... tới những chi tiết không nhớ nổi nữa, mặt buồn hiu... thế là bỏ... Vậy đó, tuổi nhỏ ham chơi nhưng cũng chóng chán là vậy.
Lớn lên một chút, được cho đi tắm sông ? Hình như cũng chẳng có ai ra lệnh cho được đi tắm sông cả... chỉ biết tắm hoài không thấy bị đòn là chắc được cho phép rồi đó. Tắm hết biết! từ trưa tới xế với các trò chơi dưới nước cùng mấy đứa trong xóm. Về tới nhà với con mắt đỏ hoe, thế là bị đòn đã đít. Hứa đủ thứ, nhưng bữa sau lại tái phạm y chang...
Lớn một chút nữa, được cho đi dỡ chà với Dượng Hai. Mới đầu ngồi trên xuồng, lần lần cũng bị sai lội xuống nước... Trời lập đông của tháng Chạp lạnh cóng, nhìn xung quanh toàn là nước, lại ở khoảng giữa sông Cái, khúc chót Ngũ Hiệp, một phần sợ .. đủ thứ... vậy mà lần cũng quen để sau nầy trong vốn sống có thêm cái nghề dỡ chà giữa sông Cái...
Sau nầy, nhà ở hai bên bờ Nam- Bắc, chuyện đi về như cơm bữa. Có lúc, từ bờ Nam đi về tới nhà khoảng 2 giờ sáng, nghe lộp cộp dưới bến, Bà Già bưng đèn ra cho thấy đường đi lên kèm theo đó là những lời quở trách. Nghĩ lại hồi nhỏ gan thiệt. Con sông rộng hơn 2 cây số chớ ít gì. Vậy mà muốn đi là đi, gặp lúc trời giông Nam sóng lớn, xuồng trôi xuống gần 2 cây số nữa, phải núp trong các vịnh bơi lần lần lên về tới nhà gần sáng, bị chữi là đáng đời...

Bây giờ, mỗi khi đi ngang cầu Rạch Miễu, nhìn về phía thượng nguồn bổng thấy nao lòng và nhớ quá. Ở một nơi phía trên đó, có cái bến xuồng nhỏ đã cho tôi một chỗ đi về, có cây Săng máu để tôi trèo lên, nhảy xuống mỗi lần ra tắm, có những con đường tắt ngoằn ngoèo chạy ra mé sông gần nhất để coi tàu xăng chạy xịt khói...
Nhớ quá, càng cố quên lại càng nhớ... Ôi chùm khế ngọt ngào của tôi.





Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012

NGOẢNH LẠI

Sông trôi, thời gian trôi, cuộc đời trôi…thắm thoát mà đã hơn 4 tháng kể từ ngày biết được bản án tử cho đời mình. Như vậy là đã quá thời gian thi hành án hơn 1 tháng. Vẫn những cơn đau nhức, vẫn một cái nhìn không bao giờ chán cuộc sống nầy và trên hết vẫn là 1 cái đầu minh mẩn…
Hai ngày trước, TT ghé thăm…văng vẳng đâu đây tiếng “Đò ơi“ tha thiết. Lần nầy, hắn có vẻ mệt mõi bởi những chuyện sự vụ, chuyển kiểm định… Tiếc, tiếc cho một nhân chứng sống về quá trình lớn lên từng bước của một Ngành GD huyện bi giờ phải lui về một góc” Sân trâu” làm Tư lịnh một đơn vị… Đò ơi…( Thèm lắm được nghe tiếng “đò ơi” 1 lần nữa của TT)
Sáng nay, 2 lớp HT tổng kết, không có mình? Ngộ nhỉ? Không sao! Rồi thì cũng xong thôi… "laissez passer "mà !

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2012

NGỦ MÓT- SỐNG MÒN

Thức dậy sau một giấc ngủ với liên tục những cơn đau giằng xé. Một ngày mới bắt đầu, lại là ngày đầu năm âm lịch; Ngày đầu tiên của năm Nhâm Thìn, mình vẫn còn tồn tại với cái đầu minh mẫn, vẫn phân biệt được sự đen trắng của thị phi… và vẫn một nổi niềm trước sự ngang trái… Mấy ngày qua, nhìn mọi người hối hả xoay vòng trong vòng quay của cuộc sống, bổng dưng thấy hơi bị mũi lòng cho thân phận, cái thân phận nhỏ nhoi trở về với vạch xuất phát sau hơn 34 năm làm kiếp con Tằm, những sợi tơ lạc lỏng giờ nếu có còn chăng thì củng chẳng ai màng đến ? Nhẹ lòng lắm ở cảm giác nầy, mình hoàn toàn khác với Giáo Thứ của Nam Cao bởi lẻ sự chọn lựa con đường , lựa chọn đến phút 89 đường đi của mình…Thương quá những người thân đã cực khổ và lo lắng cho mình từ miếng ăn đến giấc ngủ, thương quá những vật dụng thân quen đã bao năm gắn bó với mình … Có “ sống mòn” không? Không, ta vẫn iêu mọi cái xung quanh và luôn nhìn đời với gam màu sáng dù phải đối mặt với một sự thật phủ phàng: Cái chết gần kề!… Hãy iêu đi và hãy cho đi… Đã cởi lớp nhung bào với câu phán” Truyền cho tướng sĩ, hồi trào an dân” mà khi xưa Huỳnh Phúc Đà Nẳng đã chỉ cho thì không có cớ gì vướng bận cả …




















Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012

CÂU ĐỐI "NHẤT SINH ĐÊ THỦ BÁI MAI HOA "CÓ PHẢI CỦA CAO BA QUÁT?

































THẬP TẢI LUÂN GIAO CẦU CỔ KIẾM
十 載 輪 交 求 古 劍





Mười năm trôi qua cầu kiếm cổ






NHẤT SINH ĐÊ THỦ BÁI MAI HOA


一 生 低 首 拜 梅 花


Một đời cúi thủ (đầu) (quỳ) lạy (bái) bông mai



Trong tạp chí Diễn đàn văn nghệ VN số 3/2006, nhà thơ nổi tiếng Phạm Tiến Duật (Tổng biên tập) có đăng bài thơ “cây mai trắng trong phòng Tổng Biên tập” tặng nhà văn, thiếu tướng Hữu Ước, có dẫn ở phần “đề từ” câu đối của Cao Bá Quát : Thập tải luân giao cầu cổ kiếm Nhất sinh đê thủ bái mai hoa Dịch là :Mười năm lặn lội tìm cây kiếm cổ Một đời chỉ biết lạy hoa mai) Theo các tài liệu đã được các nhà nghiên cứu tiền bối công bố, thì đôi câu đối trên có xuất xứ như sau : Theo “Như Thanh Nhật ký” năm Mậu Thìn (1868) vua Tự Đức cử đoàn sứ bộ sang triều cống nhà Mãn Thanh : cầm đầu là chánh sứ Lê Tuấn (đỗ Hoàng Giáp năm 1853); phó sứ là Nguyễn Tử Giản (Hoàng Giáp năm 1884); phó sứ thứ 2 là cử nhân Hoàng Tịnh. Hành trình của sứ bộ theo lối xưa từ ải Nam Quan đến Yên Kinh “bộ khôn bằng bộ, thuỷ khôn bằng thuyền” mất 181 ngày (lưu trú 64 ngày đi 117 ngày trong đó 44 ngày đường bộ, 73 ngày đường thuỷ). Khởi hành ngày 1/8 Mậu Thìn, sau 125 ngày thì đến huyện thành Hà Dương tỉnh Hồ Bắc, ở đó đoàn Sứ bộ Việt Nam được viên tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng đôi câu đối cho chánh sứ Lê Tuấn : Hữu Khẩu tu ngôn thiên hạ sự Kháng hoài bất nhượng cổ chi nhân Tạm dịch :Có miệng nên nói việc thiên hạ Nghị lực không chịu nhường người xưa. Câu đối tặng Nguyễn Tử Giản : Thập tải luân giao cầu cổ kiếm Nhất sinh đê thủ bái mai hoa Tạm dịch :Mười năm chọn bạn như tìm thanh kiếm cổ Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai Câu đối tặng Hoàng Tịnh: Truyền thần cổ hữu Lý Tư Huấn Vấn tự kim vô Dương Tử Vân Tạm dịch :Truyền thần xưa có Lý Tư Huấn Hỏi chữ nay không Dương Tử Vân. Sự kiện trên được chép trong “Yên thiều bút lục” của Nguyễn Tử Giản (1823-1890) sách viết tay của thư viện khoa học Trung ương, số A.852 tờ 18a-b; Cứ liệu trên đã được các học giả Tảo Trang và Hoa Bằng đưa ra trên tạp chí văn học số 2-Hà Nội năm 1972, trang 61 và 64). Câu đối “... bái mai hoa” của Ngải Tuấn Mỹ tặng Nguyễn Tử Giản là vào năm 1868, trước đó 14 năm, Cao Bá Quát đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (Giáp Dần 1854)... phải chăng người đời do quá yêu Cao Chu Thần nên cứ thích tương truyền câu “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” là của ông như một giai thoại để đời ?


Góc Thành Nam-Hà Nội ngày 5-12-2006

NGUYỄN KHÔI


Nào giờ tôi và bạn bè luôn đinh ninh 2 câu thơ “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm - Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” là của Chu thần Cao Bá Quát. Nhưng trên tạp chí Hồn Việt số 33 (tháng 3-2010), GS Mai Quốc Liên lại đưa ra những dẫn chứng cho rằng đây là câu đối có gốc tích từ Trung Quốc. Ý kiến của cô Tú?


- Không riêng gì bạn, lâu nay nhiều người - kể cả sách giáo khoa - đều cho rằng tác giả của 2 câu trên (tạm dịch: Xuôi ngược mười năm tìm kiếm cổ - Một đời chỉ cúi trước hoa mai) là Cao Bá Quát. GS Mai Quốc Liên đã giải thích đúng, và Tú tôi xin bổ sung thêm: Ngoài học giả Hoa Bằng, nhà nghiên cứu Tảo Trang (tạp chí Văn Học, 2-1963) cũng đã nêu vấn đề 2 câu đối trên là của Tri phủ Hán Dương - Hồ Bắc (không phải Hà Bắc) Ngải Tuấn Mỹ tặng phó sứ Nguyễn Tư Giản khi ông cùng với Lê Tuấn (chánh sứ) và Hoàng Tịnh được vua Tự Đức cử đi sứ sang Trung Quốc vào năm 1868 (không phải 1869). Mặt khác, Cao Bá Quát đã mất trước đó 13 năm (không phải 15 năm - ông hi sinh trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương vào tháng chạp năm Giáp Dần, tức tháng 1-1854). Dẫn chứng trên là có cơ sở, bởi tác phẩm “Yên Thiều bút lục” của Nguyễn Tư Giản (viết tay) vẫn còn lưu ở thư viện Khoa Học Trung Ương (ký hiệu A.852, tờ 18a-b).
VŨ QUỐC TUẤN (Bà Rịa – Vũng Tàu)


* Gần đây, tôi nghe có người đã dẫn tài liệu để chứng minh rằng câu đối “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” không phải là của Cao Bá Quát. Xin quý báo nói rõ hơn về vấn đề này. (Nguyễn Minh, Hội An, Quảng Nam).

- Lâu nay, hầu hết các sách báo, tài liệu đều cho rằng hai câu đối “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (Giao hảo mười năm tìm kiếm cổ/ Một đời chỉ cúi trước hoa mai) là của Cao Bá Quát.
Từ điển Bách khoa toàn thư (Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam), tại mục từ Hoa mai có đoạn: “Mai là biểu tượng của vẻ đẹp trong sáng, thanh tao, của tinh thần kiên cường bất khuất. Với ý nghĩa đó, những nhà văn hóa Việt Nam như Nguyễn Du đã từng viết: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”, Cao Bá Quát: “Bái phục một hoa mai”, và Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngẩng đầu, Mặt Trời đỏ; Bên suối, một cành mai”.
“Bái phục một hoa mai” chính là giảng nghĩa cụm từ “bái mai hoa” trong câu đối đang xét.
GS Vũ Khiêu trong sách Thơ văn Cao Bá Quát (Nhiều tác giả, NXB Văn học, 1984) cũng dẫn câu đối này và bình: “Hai câu đối rất được truyền tụng này của Cao Bá Quát đã phản ánh đầy đủ tinh thần phản kháng của ông. Chúng vừa nói lên khí phách anh hùng, quyết tâm đứng lên trừ bạo cứu dân, vừa bộc lộ một tâm hồn trong sạch thanh cao, đẹp như hoa mai trắng”.
Tuy nhiên, Tảo Trang trong “Một số tư liệu về thơ văn Cao Bá Quát” (Tạp chí Văn học số 38 tháng 2 năm 1963) và Hoa Bằng trong “Một vài tìm tòi về đôi câu đối tương truyền là của Cao Bá Quát” (Tạp chí văn học số 134 tháng 3-4 năm 1972) đã nói khác. Hai tác giả đã dẫn nội dung trong cuốn “Yên thiều bút lục” của Nguyễn Tử Giản (sách viết tay của Thư viện Khoa học Trung ương, số A.852 tờ 18a-b) để chứng minh câu đối đang xét không phải của Cao Bá Quát mà là của Tri phủ Hán Dương nhà Thanh là Ngải Tuấn Mỹ tặng Nguyễn Tư Giản (1823-1890) khi ông này đi sứ sang Tàu.
Theo “Như Thanh nhật ký” (tác phẩm của tập thể Sứ bộ tâu báo lên nhà vua sau khi hoàn thành chuyến đi sứ sang Thanh), năm Mậu Thìn (1868) vua Tự Đức cử đoàn Sứ bộ sang triều cống nhà Mãn Thanh gồm: Chánh sứ Lê Tuấn, Phó sứ thứ nhất Nguyễn Tử Giản và Phó sứ thứ hai Hoàng Tịnh. Khi đến huyện thành Hà Dương, tỉnh Hồ Bắc, Sứ bộ Việt Nam được viên Tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng ba vị Chánh, Phó sứ, mỗi người một câu đối riêng. Câu đối tặng cho Nguyễn Tư Giản chính là câu đang xét.
Như vậy, câu đối nói về chuyện “bái phục một hoa mai” xuất hiện vào năm 1868, thế nhưng, 14 năm trước đó, họ Cao đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương bất thành (Giáp Dần 1854) thì làm sao có thể sáng tác ra câu đối bất hủ này?
Nói thêm, hiện có một số tài liệu cho rằng câu đối đang xét là hai câu sau của một bài tứ tuyệt của Cao Bá Quát (như Từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia): “Kinh thế hữu tài giai bách luyện/ Độc thư vô tự bất thiên kim/ Thập tải luân giao cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”. Hai câu đầu nghĩa là: Người làm kinh bang tế thế (muốn) có tài phải qua trăm luyện/ Kẻ đọc sách không (hiểu) chữ thì không thành ngàn vàng.
Rõ ràng đây chỉ đơn thuần là một sự gán ghép. 4 câu nói trên không thể là một bài thơ Đường luật hoàn chỉnh, bởi nó mắc hai lỗi cực kỳ quan trọng trong luật Đường thi: Thất vận (câu 2 không bắt vần với câu 4) và thất niêm (chữ thứ hai câu 2 không cùng thanh với chữ thứ hai câu 3).
ĐNCT

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

NGÀY 26 THÁNG CHẠP

Vừa hừng sáng, nhận được tin nhắn của Hòa Trân từ Kiên Giang gởi ra hỏi thăm “ có khòe không?”… Ôi cái tình sao mà nặng quá…Một ngày mới bắt đầu với vô số công việc của “ năm cùng tháng tận”, mà bạn hiền vẫn nhớ đến mình, vẫn lo lắng cho khối u trong người mình có trở chứng hay không? Bạn là chủ xị một cơ quan trường học thuộc lọai lớn nhất tỉnh, chủ một gia đình, chủ một số cơ sở…Vậy mà trong đầu tưởng đã tràn bộ nhớ vẫn dành cho mình một chỗ đứng trang trọng vào buổi sáng đầu ngày. Thương bạn quá ! Chaien ( Tên mình hay gọi cho bạn) ơi! Mình sẽ cố vượt lên chính mình để một lúc nào đó, ta sẽ ngồi bên nhau….

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

BỎ LẠI SAU LƯNG




20 tháng Chạp! Những ngày cuối năm âm lịch với vòng quay hối hả đã bắt đầu khởi động… Cảm giác chia tay với nghề nghiệp mầy ngày trước vẫn còn… Lại bắt đầu suy nghĩ mông lung….
(Mấy câu nầy của ai không thể nào nhớ nổi, nó chui vào đầu mình lúc nào không rõ… Chỉ biết chắc chắc chắn đây không phải là con mình…)




Rồi mai đây biết ai còn có nhớ
Hay quên đi như bụi phấn này xưa
Thời gian qua giọng Thầy vang ở đó
Còn gì không hay một âm thừa?




Thôi bỏ đó từng giờ chơi giờ học
Tiếng trống ban mai, áo trắng ngập ngừng
Lối cát buồn chợt nức nỡ buân khuâng
Thầy cúi xuống nghe lòng mình nặng trĩu
……..

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

THÔI THẾ LÀ XONG




Thế là xong, hơn 33 năm làm thuê cho Nhà nước, bi giờ “phẻ quá chời”. Không còn phải lo nói cái gì, chuẩn bị cái gì cho cuộc họp, không phải lo phân công công việc cho người khác làm…. Tâm trạng buồn vui ra sao? Thông thường có nhiều người muốn níu kéo, có người thắc mắc về đủ thứ trên đời các việc có liên quan đến chính sách….Với ta, xin nghỉ trước tuổi cho nghỉ hưu tới 7 năm. Vậy mà vẫn đủ điều kiện về hưu, thậm chí còn dư đến mấy năm … Thiệt, không có gì khỏe cho bằng... Không vướng bận...Cầu mong cho sức khỏe khá hơn để làm hết phần việc còn lại của một kẻ lãng du...
Từ nay về sau nầy, ta sẽ hiện hữu trong cuộc đời nầy với một tư cách khác. Việc đã qua trong gần hết đời người xin được mượn ý thơ của Lý Bạch trong bài “ Hiệp khách hành



事 了 拂 衣 去

深 藏 身 與 名

Sự liễu phất y khứ,

Thâm tàng thân dữ danh.
Tạm dịch:


Việc xong, rũ áo ra đi,


Xoá nhoà thân thế, kể gì tiếng tăm



Thế là xong câu chuyện về một cuộc tình …
Thế là xong…